Thay đổi cấp độ rủi ro bảo hiểm
B24 Với một số hợp đồng, việc chuyển giao rủi ro bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm xảy ra sau một khoảng thời gian. Ví dụ, một hợp đồng quy định một khoản lãi đầu tư nhất định, và đưa ra một quyền chọn cho chủ hợp đồng để sử dụng khoản thu hồi khi đáo hạn để mua hợp đồng niên kim theo mức phí hiện hành đối với những người mới tham gia hợp đồng niên kim khác khi chủ hợp đồng thực hiện quyền chọn của mình. Hợp đồng này chỉ chuyển giao rủi ro bảo hiểm sau khi khi quyền chọn được thực hiện, vì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn giữ quyền định giá niên kim theo cơ sở phản ánh rủi ro bảo hiểm được chuyển giao cho doanh nghiệp bảo hiểm tại thời điểm đó. Hệ quả là, dòng tiền phát sinh từ việc thực hiện quyền chọn nằm ngoài phạm vi hợp đồng, và trước khi thực hiện quyền chọn không có dòng tiền bảo hiểm nào phát sinh trong phạm vi hợp đồng. Tuy nhiên, nếu hợp đồng chỉ ra sẵn mức phí niên kim (hoặc một phương pháp khác mức phí của thị trường để xác định mức phí niên kim), hợp đồng chuyển giao rủi ro bảo hiểm sang doanh nghiệp bảo hiểm bởi vì doanh nghiệp bảo hiểm chịu rủi ro khi mức phí niên kim gây bất lợi đối với doanh nghiệp bảo hiểm khi chủ hợp đồng thực hiện quyền chọn. Trong trường hợp này, dòng tiền phát sinh khi quyền chọn được thực hiện thuộc phạm vi hợp đồng.
B25 Một hợp đồng thỏa mãn định nghĩa của một hợp đồng bảo hiểm sẽ vẫn là một hợp đồng bảo hiểm cho đến khi tất cả các quyền lợi và nghĩa vụ được hủy bỏ (ví dụ hoàn thành, hủy bỏ, hết hạn), trừ khi hợp đồng được dừng ghi nhận áp dụng đoạn 74-77 do sửa đổi hợp đồng.
Ví dụ về hợp đồng bảo hiểm
B26 Dưới đây là các ví dụ về các hợp đồng là các hợp đồng bảo hiểm, nếu rủi ro bảo hiểm được chuyển giao là trọng yếu:
(a) hợp đồng bảo hiểm trộm cắp hoặc tổn thất đối với tài sản.
(b) hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm, trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm dân sự hoặc các chi phí pháp lý.
(c) hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và các kế hoạch mai táng được thanh toán trước (mặc dù tử vong là chắc chắn nhưng không chắc chắn về thời điểm xảy ra, do đó có một số loại bảo hiểm nhân thọ, sự kiện bảo hiểm là tử vong xảy ra trong thời gian được bảo hiểm).
(d) hợp đồng niên kim và hưu trí, ví dụ các hợp đồng sẽ bồi thường cho sự kiện không chắc chắn trong tương lai – người được bảo hiểm còn sống trong thời gian hưởng niên kim hoặc hưu trí – để hỗ trợ người được hưởng trợ cấp hàng năm hoặc người hưởng lương hưu một mức thu nhập mà mức thu nhập này có thể bị ảnh hưởng xấu bởi sự sống của họ. (Nghĩa vụ phải trả của người sử dụng lao động phát sinh từ kế hoạch lợi ích nhân viên và trách nhiệm chi trả lợi ích hưu trí theo các kế hoạch lợi ích hưu trí nằm ngoài phạm vi của IFRS 17, áp dụng theo đoạn 7(b)).
(e) bảo hiểm tàn tật hoặc chi phí y tế.
(f) trái phiếu bảo lãnh/cam kết bảo lãnh, trái phiếu lòng trung thành, trái phiếu bảo đảm/chứng thư bảo lãnh thực hiện, bảo lãnh dự thầu; ví dụ hợp đồng bồi hoàn cho chủ hợp đồng nếu một bên khác không thực hiện một nghĩa vụ hợp đồng, ví dụ một nghĩa vụ để xây dựng một tòa nhà.
(g) bảo hành sản phẩm. Bảo hành sản phẩm phát hành bởi một bên thứ ba cho hàng hóa bán bởi nhà sản xuất, đại lý hoặc nơi bán lẻ là thuộc phạm vi của chuẩn mực này. Tuy nhiên, bảo hành sản phẩm phát hành trực tiếp bởi nhà sản xuất, đại lý hay nơi bán lẻ không thuộc phạm vi của chuẩn mực này, áp dụng đoạn 7(a), và thay vào đó là thuộc phạm vi của IFRS 15 hoặc IAS 37 Dự phòng, nợ tiềm tàng và tài sản tiềm tàng.
(h) bảo hiểm quyền sở hữu (bảo hiểm đối với những tổn thất chưa được nhận biết về quyền sở hữu đất đai hoặc nhà cửa tại thời điểm phát hành hợp đồng bảo hiểm). Trong trường hợp này, sự kiện được bảo hiểm là việc phát hiện ra tổn thất về quyền, chứ không phải là bản thân tổn thất đó.
(i) bảo hiểm du lịch (thanh toán bằng tiền hoặc hình thức khác cho chủ hợp đồng khi có tổn thất xảy ra trước hoặc trong khi đang đi du lịch)
(j) trái phiếu thảm họa với điều khoản được giảm mức thanh toán gốc, lãi hoặc cả hai nếu như có một sự kiện nhất định xảy ra tác động bất lợi cho tổ chức phát hành trái phiếu (trừ khi sự kiện đó không tạo ra rủi ro bảo hiểm trọng yếu, ví dụ như khi sự kiện được quy định là một sự thay đổi lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái).
(k) hợp đồng bảo hiểm hoán đổi và các hợp đồng khác yêu cầu việc thanh toán phải được thực hiện dựa trên các thay đổi về khí hậu, địa lý hoặc các biến số vật lý khác liên quan đến một bên của hợp đồng.
B27 Dưới đây là các ví dụ về các hợp đồng không phải là hợp đồng bảo hiểm:
(a) hợp đồng đầu tư có hình thức pháp lý của hợp đồng bảo hiểm nhưng không chuyển giao rủi ro bảo hiểm trọng yếu cho doanh nghiệp bảo hiểm. Ví dụ như hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trong đó doanh nghiệp bảo hiểm không chịu rủi ro tử vong trọng yếu hoặc rủi ro về bệnh tật không phải là hợp đồng bảo hiểm; các hợp đồng này là công cụ tài chính hoặc hợp đồng dịch vụ, xem đoạn B28. Hợp đồng đầu tư với đặc tính tham gia chia lãi tùy ý không đáp ứng định nghĩa của một hợp đồng bảo hiểm, tuy nhiên, những hợp đồng này nằm trong phạm vi của IFRS 17 miễn là hợp đồng được phát hành bởi doanh nghiệp cũng phát hành hợp đồng bảo hiểm, áp dụng đoạn 3(c).
(b) hợp đồng có hình thức pháp lý của hợp đồng bảo hiểm, nhưng chuyển lại tất cả rủi ro bảo hiểm trọng yếu sang cho chủ hợp đồng thông qua các cơ chế không thể hủy bỏ và mang tính cưỡng chế, trong đó điều chỉnh các khoản thanh toán trong tương lai của chủ hợp đồng cho doanh nghiệp bảo hiểm như là kết quả trực tiếp của tổn thất được bảo hiểm. Ví dụ một số hợp đồng tái bảo hiểm tài chính hoặc hợp đồng theo nhóm chuyển lại tất cả các rủi ro bảo hiểm trọng yếu cho chủ hợp đồng, các hợp đồng này thường là công cụ tài chính hoặc hợp đồng dịch vụ (xem đoạn B28).
(c) tự bảo hiểm (giữ lại một rủi ro có thể được bảo vệ bởi bảo hiểm). Trong trường hợp này, không có hợp đồng bảo hiểm do không có thỏa thuận với bên khác. Do đó, nếu một doanh nghiệp phát hành hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp mẹ, doanh nghiệp con hoặc các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn, sẽ không tồn tại hợp đồng bảo hiểm trên báo cáo hợp nhất bởi vì không có hợp đồng với một bên khác. Tuy nhiên, cho báo cáo riêng của doanh nghiệp bảo hiểm hoặc chủ hợp đồng, đây được coi là một hợp đồng bảo hiểm.
(d) các hợp đồng (ví dụ như hợp đồng cá cược) yêu cầu một bên phải thanh toán nếu xảy ra một sự kiện không chắc chắn trong tương lai, nhưng không yêu cầu sự kiện đó phải có tác động bất lợi đến chủ hợp đồng, như một điều kiện thanh toán tiên quyết. Tuy nhiên, từ định nghĩa của hợp đồng bảo hiểm, điều này không loại trừ một khoản thanh toán định trước để lượng hóa tổn thất bới một sự kiện như tử vong hay tai nạn (xem thêm đoạn B13).
(e) các công cụ phái sinh đem lại cho một bên rủi ro tài chính chứ không phải rủi ro bảo hiểm, vì các công cụ này yêu cầu một bên phải thanh toán (hoặc cho họ quyền được nhận) một khoản thanh toán chỉ dựa trên thay đổi về một hoặc nhiều hơn trong số các yếu tố về một lãi suất cụ thể, giá công cụ tài chính, giá hàng hóa, tỷ giá hối đoái, chỉ số về giá và lãi suất, xếp hạng tín dụng hoặc chỉ số tín dụng hoặc các biến số khác, với điều kiện các biến số phi tài chính này không liên quan cụ thể đến một bên của hợp đồng.
(f) bảo lãnh liên quan đến tín dụng yêu cầu thanh toán ngay cả khi chủ hợp đồng không phải chịu tổn thất khi bên đi vay không thực hiện được khoản thanh toán khi đến hạn; những hợp đồng này được hạch toán áp dụng IFRS 9 Công cụ tài chính (xem đoạn B29).
(g) hợp đồng yêu cầu việc thanh toán phải được thực hiện dựa trên các thay đổi về khí hậu, địa lý hoặc sực thay đổi về vật lý khác, không liên quan cụ thể đến một bên của hợp đồng (thường được mô tả là công cụ phái sinh thời tiết).
(h) hợp đồng với điều khoản giảm khoản thanh toán về gốc, lãi hoặc cả gốc và lãi, phụ thuộc vào khí hậu, địa lý hoặc sự thay đổi vật lý khác, không liên quan cụ thể đến một bên của hợp đồng (thường liên quan đến trái phiếu thảm họa).
B28 Doanh nghiệp có thể áp dụng các chuẩn mực khác, ví dụ IFRS 9 và IFRS 15, với các hợp đồng mô tả trong đoạn B27.
B29 Các bảo lãnh liên quan đến tín dụng và các hợp đồng bảo hiểm tín dụng nêu trong đoạn B27(f) có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức pháp lý, ví dụ thư bảo lãnh, thư tín dụng, hợp đồng tín dụng mặc định hoặc một hợp đồng bảo hiểm. Những hợp đồng này là hợp đồng bảo hiểm nếu quy định tổ chức phát hành phải thanh toán một khoản tiền cụ thể để bồi hoàn cho chủ hợp đồng tổn thất phát sinh khi người đi vay không thể thanh toán khi đến hạn, áp dụng điều khoản gốc hoặc sửa đổi cho chứng khoán nợ. Tuy nhiên, những hợp đồng bảo hiểm này không thuộc phạm vi của IFRS 17, trừ khi tổ chức phát hành trước đây đã khẳng định rõ ràng rằng họ coi các hợp đồng là hợp đồng bảo hiểm và đã sử dụng cách hạch toán áp dụng cho các hợp đồng bảo hiểm (xem đoạn 7(e)).
B30 Các bảo lãnh liên quan đến tín dụng và các hợp đồng bảo hiểm tín dụng yêu cầu thanh toán, ngay cả khi chủ hợp đồng không phát sinh tổn thất nếu người đi vay không thể thanh toán khi đến hạn, không thuộc phạm vi của IFRS 17 bởi vì những hợp đồng này không chuyển giao rủi ro bảo hiểm trọng yếu. Những hợp đồng này bao gồm các điều khoản thanh toán:
(a) bất kể đối tác có nắm giữ công cụ nợ cơ bản hay không;
(b) về sự thay đổi trong xếp hạng tín dụng hoặc chỉ số tín dụng, thay vì người đi vay không thể thanh toán khi đến hạn