Hồng Nhung
Administrator
- Bài viết
- 45
- Được Like
- 1
Mục tiêu
1. Mục tiêu của IFRS này là thiết lập các nguyên tắc cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các đơn vị có lợi ích trong các thỏa thuận được kiểm soát chung (các thỏa thuận chung).
Đáp ứng mục tiêu
2. Để đáp ứng mục tiêu trong đoạn 1, IFRS này định nghĩa kiểm soát chung và yêu cầu một đơn vị là một bên tham gia thỏa thuận chung xác định loại thỏa thuận chung mà đơn vị đó tham gia bằng cách đánh giá các quyền và nghĩa vụ của mình và kế toán các quyền và nghĩa vụ đó phù hợp với loại thỏa thuận chung tương ứng.
Phạm vi
IFRS này phải được bởi tất cả các đơn vị là một bên tham gia thỏa thuận chung áp dụng.
Thỏa thuận chung
4. Một thỏa thuận chung là một thỏa thuận trong đó hai hoặc nhiều bên có kiểm soát chung.
5. Một sự thỏa thuận chung có các đặc điểm sau:
(a) Các bên bị ràng buộc bởi một thỏa thuận hợp đồng (xem đoạn B2-B4).
(b) Thỏa thuận hợp đồng này cho phép hai hoặc nhiều bên trong số các bên đó kiểm soát chung thỏa thuận (xem đoạn 7-13).
6. Một thỏa thuận chung có thể thuộc một trong hai loại là một hoạt động chung hoặc một liên doanh.
Kiểm soát chung
7. Kiểm soát chung là thỏa thuận hợp đồng để chia sẻ quyền kiểm soát, mà tồn tại chỉ khi các quyết định về những hoạt động liên quan đòi hỏi sự đồng thuận của các bên chia sẻ quyền kiểm soát.
8. Một đơn vị là một bên tham gia một thỏa thuận phải đánh giá xem thỏa thuận hợp đồng có cho phép tất cả các bên, hoặc một nhóm các bên, kiểm soát thỏa thuận đó hay không. Tất cả các bên, hoặc một nhóm các bên, kiểm soát thỏa thuận tập thể khi họ phải hành động cùng nhau để chỉ đạo các hoạt động ảnh hưởng đáng kể đến lợi tức từ thỏa thuận (tức là các hoạt động liên quan).
9. Khi đã xác định rằng tất cả các bên, hoặc một nhóm các bên, kiểm soát thỏa thuận một cách tập thể, kiểm soát chung chỉ tồn tại khi các quyết định về các hoạt động liên quan cần có sự đồng thuận thống nhất của các bên kiểm soát thỏa thuận chung một cách tập thể.
10. Trong một thỏa thuận chung, không một bên nào tự mình kiểm soát thỏa thuận đó. Một bên có quyền kiểm soát chung của một thỏa thuận có thể ngăn chặn bất kỳ bên nào khác, hoặc một nhóm các bên, kiểm soát thỏa thuận.
11. Một thỏa thuận có thể là một thỏa thuận chung mặc dù không phải tất cả các bên tham gia đều có quyền kiểm soát chung đối với thỏa thuận đó. IFRS này phân biệt giữa các bên có quyền kiểm soát chung của thỏa thuận chung (bên vận hành chung hoặc bên liên doanh) và các bên tham gia thỏa thuận chung nhưng không có quyền kiểm soát chung.
12. Một đơn vị phải áp dụng xét đoánxét đoán khi đánh giá liệu tất cả các bên, hoặc một nhóm các bên, có quyền kiểm soát chung đối với một thỏa thuận hay không. Một đơn vị phải thực hiện đánh giá này bằng cách xem xét tất cả các thông tin thực tế và tình huống (xem đoạn B5-B11).
13. Nếu thực tế và tình huống thay đổi, một đơn vị phải đánh giá lại liệu đơn vị đó có còn kiểm soát chung thỏa thuận hay không.
Các loại thỏa thuận chung
14. Một đơn vị phải xác định loại thỏa thuận chung mà đơn vị đó tham gia. Việc phân loại thỏa thuận chung là hoạt động chung hoặc liên doanh phụ thuộc vào quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia thỏa thuận.
15. Hoạt động chung là một thỏa thuận chung, theo đó các bên có quyền kiểm soát chung của thỏa thuận có quyền đối với tài sản và nghĩa vụ đối với các khoản nợ liên quan đến thỏa thuận. Các bên đó được gọi là bên vận hành hoạt động chung.
16. Liên doanh là một thỏa thuận chung, theo đó các bên có quyền kiểm soát chung của thỏa thuận có quyền đối với tài sản thuần của thỏa thuận. Các bên đó được gọi là bên liên doanh.
17. Một đơn vị áp dụng xét đoán khi đánh giá liệu một thỏa thuận chung là hoạt động chung hay liên doanh. Một đơn vị phải xác định loại thỏa thuận chung mà đơn vị đó tham gia bằng cách xem xét các quyền và nghĩa vụ của đơn vị đó phát sinh từ thỏa thuận. Một đơn vị đánh giá các quyền và nghĩa vụ của mình bằng cách xem xét cấu trúc và hình thức pháp lý của thỏa thuận, các điều khoản được các bên thỏa thuận trong thỏa thuận hợp đồng và, khi phù hợp, các thông tin thực tế và tình huống khác (xem đoạn B12-B33).
18. Đôi khi các bên bị ràng buộc bởi một thỏa thuận khung thiết lập các điều khoản hợp đồng chung để thực hiện một hoặc nhiều hoạt động. Thỏa thuận khung có thể quy định rằng các bên thiết lập các thỏa thuận chung khác nhau để thực hiện các hoạt động cụ thể tạo thành các phần của thỏa thuận khung. Mặc dù các thỏa thuận chung đó có liên quan đến cùng một thỏa thuận khung, phân loại của chúng có thể khác nhau nếu quyền và nghĩa vụ của các bên khác nhau khi thực hiện các hoạt động khác nhau được quy định trong thỏa thuận khung. Do đó, các hoạt động chung và liên doanh có thể cùng tồn tại khi các bên thực hiện các hoạt động khác nhau tạo thành các phần của cùng một thỏa thuận khung.
19. Nếu thông tin thực tế và tình huống thay đổi, một đơn vị phải đánh giá lại liệu phân loại thỏa thuận chung có liên quan có thay đổi hay không.
Bài viết liên quan
Bài viết mới