Chia sẻ Chuẩn Mực Báo Cáo Tài Chính Quốc Tế IFRS 3 - Hợp Nhất Kinh Doanh

Xử lý hiệu quả mối quan hệ tồn tại từ trước giữa bên mua và bên bị mua trong giao dịch hợp nhất kinh doanh (áp dụng đoạn 52(a))

B51 Bên mua và bên bị mua có thể đã có một quan hệ tồn tại trước khi hai bên tham gia vào một giao dịch hợp nhất kinh doanh, được gọi là “quan hệ trước hợp nhất kinh doanh”. Quan hệ trước hợp nhất kinh doanh giữa bên mua và bên bị mua có thể là quan hệ hợp đồng (ví dụ, nhà cung cấp và khách hàng hoặc bên nhượng quyền và bên được nhượng quyền) hoặc không phải là quan hệ hợp đồng (ví dụ, nguyên đơn và bị đơn).

B52 Nếu giao dịch hợp nhất kinh doanh có hiệu lực để xử lý một quan hệ trước hợp nhất kinh doanh, bên mua ghi nhận khoản lãi hoặc lỗ, được xác định giá trị như sau:

(a) cho quan hệ trước hợp nhất kinh doanh dưới dạng phi hợp đồng (ví dụ vụ kiện), theo giá trị hợp lý.

(b) cho quan hệ hợp đồng trước hợp nhất kinh doanh, theo giá trị (i) hoặc (ii), tùy thuộc giá trị nào thấp hơn:

(i) giá trị thể hiện phần có lợi hoặc bất lợi trong hợp đồng từ góc độ của người mua khi so sánh với các điều khoản trên thị trường của các giao dịch cho cùng hoặc các tài sản tương tự. (Hợp đồng bất lợi là một hợp đồng bất lợi khi so sánh với các điều khoản trên thị trường hiện tại. Nó không nhất thiết phải là một hợp đồng bị lỗ mà theo đó chi phí không thể tránh được để thực hiện hợp đồng lớn hơn lợi ích kinh tế kỳ vọng thu được.)

(ii) giá trị được quy định trong các điều khoản thanh toán cho đối tác mà hợp đồng này là bất lợi.

Nếu (ii) thấp hơn (i), thì phần chênh lệch được ghi nhận là một phần trong kế toán cho giao dịch hợp nhất kinh doanh.

Giá trị của khoản lãi hay lỗ được ghi nhận có thể phụ thuộc một phần vào việc bên mua trước đó đã ghi nhận tài sản hay nợ phải trả tương ứng hay chưa, và do đó, khoản lãi hoặc lỗ được ghi nhận có thể khác với giá trị tính được khi áp dụng yêu cầu trên.

B53 Quan hệ trước hợp nhất kinh doanh có thể là một hợp đồng mà người mua ghi nhận là một quyền mua lại. Nếu hợp đồng bao gồm những điều khoản có lợi hay bất lợi so với mức giá cho các giao dịch trên thị trường hiện tại đối với các tài sản đó hoặc các tài sản tương tự, bên mua ghi nhận tách biệt với hợp nhất kinh doanh một khoản lãi hay lỗ cho việc thanh lý hợp đồng, được xác định giá trị theo đoạn B52.

Thỏa thuận thanh toán tiềm tàng cho người lao động hoặc chủ sở hữu bên bán (áp dụng đoạn 52(b))

B54 Việc các thỏa thuận thanh toán tiềm tàng cho người lao động hay chủ sở hữu bên bán có phải là giá mua tiềm tàng trong giao dịch hợp nhất kinh doanh hay là các giao dịch riêng biệt phụ thuộc vào bản chất của những thỏa thuận này. Việc hiểu được nguyên nhân tại sao thỏa thuận mua bán lại có một điều khoản về khoản chi trả tiềm tàng, bên nào khởi xướng thỏa thuận này và thời điểm các bên ký kết thỏa thuận có thể hữu ích trong việc đánh giá bản chất của thỏa thuận.

B55 Khi không thể xác định rõ ràng một thỏa thuận thanh toán cho người lao động hay chủ sở hữu bên bán có là một phần trao đổi để có được bên bị mua hay là một giao dịch tách biệt với giao dịch hợp nhất kinh doanh, bên bán phải cân nhắc những yếu tố sau:

(a) Tiếp tục tuyển dụng – Những điều khoản về tiếp tục tuyển dụng chủ sở hữu cũ của bên bán như là nhân sựchủ chốt có thể là dấu hiệu của một thỏa thuận mà về bản chất là có giá mua tiềm tàng. Những điều khoản liên quan đến tiếp tục tuyển dụng có thể được đưa vào thỏa thuận lao động, thỏa thuận mua bán hay một tài liệu khác. Một thỏa thuận giá mua tiềm tàng mà trong đó, các khoản thanh toán sẽ tự động hết hiệu lực khi chấm dứt việc sử dụng lao động, sẽ là một khoản thù lao cho dịch vụ sau hợp nhất. Các thỏa thuận mà trong đó, các khoản thanh toán tiềm tàng không bị ảnh hưởng bởi việc chấm dứt sử dụng lao động, có thể là dấu hiệu của việc các khoản thanh toán tiềm tàng đó là khoản giá mua tăng thêm hơn là khoản thù lao.

(b) Thời gian tiếp tục tuyển dụng: Nếu thời gian tiếp tục tuyển dụng được yêu cầu trùng với hoặc dài hơn giai đoạn thanh toán tiềm tàng thì các khoản chi trả tiềm tàng đó về bản chất có thể là khoản thù lao.

(c) Mức thù lao: Trong trường hợp thù lao cho người lao động ngoài các khoản thanh toán tiềm tàng là gần với mức thù lao của các nhân sự chủ chốt khác trong đơn vị sau hợp nhất kinh doanh, thì có khả năng khoản thanh toán tiềm tàng là phần giá mua tăng thêm chứ không phải là tiền thù lao.

(d) Các khoản chi trả tăng thêm cho người lao động – Nếu những chủ sở hữu tại bên bán, những người sau này không trở thành nhân viên, nhận khoản thanh toán tiềm tàng trên mỗi cổ phần thấp hơn những chủ sở hữu tại bên bán, những người sau này trở thành người lao động tại đơn vị sau hợp nhất kinh doanh, thì có khả năng khoản chi trả tiềm tàng tăng thêm cho những chủ sở hữu tại bên bán mà sau này trở thành nhân viên là tiền thù lao.

(e) Số lượng cổ phần sở hữu: Số lượng cổ phần sở hữu bởi những chủ sở hữu tại bên bán trở thành nhân sự của đơn vị sau hợp nhất kinh doanh có thể là dấu hiệu của một thỏa thuận về giá mua tiềm tàng. Ví dụ, nếu các chủ sở hữu bên bán, những người nắm giữ phần lớn tất cả cổ phần tại bên bị mua, tiếp tục làm việc như là nhân sự chủ chốt cho đơn vị sau hợp nhất kinh doanh, thì đó có thể là dấu hiệu cho thấy về bản chất, thỏa thuận này là một thỏa thuận phân chia lợi nhuận nhằm chi trả thù lao cho dịch vụ sau hợp nhất. Thay vào đó, nếu những chủ sở hữu tại bên bán tiếp tục là nhân sự chủ chốt của đơn vị sau hợp nhất kinh doanh chỉ sở hữu một phần rất nhỏ cổ phẩn của bên bị mua và mọi chủ sở hữu tại bên bán đều nhận được cùng một khoản giá mua tiềm tàng trên mỗi cổ phần, thì đó là dấu hiệu cho thấy các khoản thanh toán tiềm tàng này là các khoản giá mua tăng thêm. Những lợi ích chủ sở hữu trước hợp nhất kinh doanh do các bên liên quan với các chủ sở hữu tại bên bán tiếp tục là nhân sự chủ chốt của đơn vị sau hợp nhất kinh doanh, ví dụ các thành viên trong gia đình, cũng phải được cân nhắc.

(f) Mối liên hệ với định giá: Nếu giá mua ban đầu được chuyển giao tại ngày mua ở gần mức thấp nhất trong khoảng giá trị xác định của bên bị mua và công thức tính khoản thanh toán tiềm tàng liên quan đến phương pháp định giá đó, thì đó có thể là dấu hiệu cho thấy các khoản thanh toán tiềm tàng là giá mua tăng thêm. Ngược lại, nếu khoản thanh toán được tính giống với những thỏa thuận phân chia lợi nhuận trước đó, thì thỏa thuận này về bản chất có thể chỉ nhằm mục đích chi trả thù lao.

(g) Công thức xác định giá mua– Công thức xác định các khoản thanh toán tiềm tàng có thể cung cấp thêm thông tin để xác định bản chất của của thỏa thuận. Ví dụ, nếu khoản thanh toán tiềm tàng được xác định dựa trên cở sở bội số của thu nhập, thì nghĩa vụ thanh toán này có khả năng là giá mua tiềm tàng trong hợp nhất kinh doanh, và rằng công thức tính này được sử dụng để xác lập hoặc kiểm chứng giá trị hợp lý của bên bị mua. Ngược lại, một khoản thanh toán tiềm tàng được xác định bằng một tỷ lệ nhất định trên thu nhập thì nghĩa vụ chi trả cho người lao động đó có khả năng là một thỏa thuận phân chia lợi nhuận để trả cho dịch vụ được thực hiện bởi người lao động.

(h) Các thỏa thuận và vấn đề khác – Điều khoản của các thỏa thuận khác với chủ sở hữu bên bán (ví dụ thỏa thuận không cạnh tranh, hợp đồng chưa hoàn thành, hợp đồng tư vấn và thỏa thuận thuê tài sản) và cách xử lý thuế thu nhập phát sinh từ khoản thanh toán tiềm tàng có thể cho thấy, khoản thanh toán tiềm tàng đó liên quan đến nội dung khác chứ không phải là giá mua trong hợp nhất kinh doanh trả cho bên bị mua. Ví dụ, cùng với hợp đồng mua bán, bên mua có thể ký kết một hợp đồng thuê tài sản với một chủ sở hữu lớn của bên bán. Nếu khoản chi trả tiền thuê thấp hơn nhiều so với mức giá thị trường, thì một phần hoặc toàn bộ khoản chi trả tiềm tàng cho bên cho thuê (chủ sở hữu bên bán) theo một thỏa thuận thanh toán tiềm tàng riêng biệt về bản chất có thể là khoản chi trả cho việc sử dụng tài sản cho thuê mà bên mua phải ghi nhận riêng biệt trong báo cáo tài chính sau hợp nhất kinh doanh. Ngược lại, nếu hợp đồng thuê quy định tiền thuê tương đồng với mức giá thị trường đối với tài sản cho thuê thì thỏa thuận chi trả tiềm tàng cho chủ sở hữu bên thuê có thể là giá mua tiềm tàng trong hợp nhất kinh doanh.​
 
Trao đổi các khoản thưởng thanh toán dựa trên cơ sở cổ phiếu được phát hành bên mua với các khoản thưởng được nắm giữ bởi người lao động tại bên bị mua (áp dụng đoạn 52(b))

B56 Bên mua có thể trao đổi những khoản thưởng thanh toán dựa trên cơ sở cổ phiếu của mình để đổi lấy những khoản thưởng thanh toán dựa trên cơ sở cổ phiếu được nắm giữ bởi người lao động tại bên bị mua (thưởng thay thế). Việc trao đổi các quyền chọn cổ phiếu hoặc thưởng thanh toán dựa trên cơ sở cổ phiếu khác trong một giao dịch hợp nhất kinh doanh được kế toán giống như kế toán cho những thay đổi trong thưởng thanh toán dựa trên cơ sở cổ phiếu theo IFRS 2 Thanh toán dựa trên cơ sở cổ phiếu. Nếu bên mua thay thế các khoản thưởng mà bên bị mua đã phát hành, thì toàn bộ hoặc một phần giá thị trường của thưởng thay thế mà bên mua phát hành được tính là một phần giá mua được chuyển giao trong hợp nhất kinh doanh. Các đoạn B57-B62 hướng dẫn phương pháp phân bổ giá thị trường. Tuy nhiên, trong trường hợp do kết quả của giao dịch hợp nhất kinh doanh, các khoản thưởng do bên bị mua phát hành sẽ hết hạn, và nếu bên mua thay thế những khoản thưởng đó trong khi bên mua không có nghĩa vụ thay thế, thì giá thị trường của những khoản thưởng thay thế phải được ghi nhận là chi phí thù lao trong báo cáo tài chính sau hợp nhất kinh doanh theo yêu cầu của IFRS 2. Điều này có nghĩa là, toàn bộ khoản thưởng được xác định theo giá thị trường này không được tính vào giá mua được chuyển giao trong hợp nhất kinh doanh. Bên mua có nghĩa vụ thay thế các khoản thưởng mà bên bị mua đã phát hành nếu bên bị mua hay người lao động tại bên bị mua có khả năng bắt buộc việc thay thế này. Ví dụ, cho mục đích áp dụng hướng dẫn này, bên mua có nghĩa vụ thay thế khoản thưởng do bên bị mua đã phát hành nếu việc thay thế này được yêu cầu bởi:

(a) các điều khoản trong thỏa thuận mua;
(b) các điều khoản trong thỏa thuận thưởng được phát hành bởi bên bị mua; hoặc
(c) các luật lệ hay quy định liên quan.

B57 Để xác định phần mà khoản thưởng thay thế được tính vào giá mua được chuyển giao cho bên bị mua, và phần được đưa vào chi phí thù lao cho dịch vụ sau hợp nhất, bên mua phải xác định giá trị các khoản thưởng thay thế được phát hành bởi cả bên mua và bên bị mua theo IFRS 2. Phần giá thị trường của khoản thưởng thay thế và là một phần của giá mua được chuyển giao để đổi lấy bên bị mua thì bằng với khoản thưởng được phát hành bởi bên bị mua và được tính cho dịch vụ trước hợp nhất.

B58 Phần mà khoản thưởng thay thế trả cho dịch vụ trước hợp nhất là khoản thưởng được phát hành bởi bên mua tính theo giá thị trường, nhân với tỷ lệ giữa kỳ chuyển quyền đã hoàn thành và một trong hai giá trị – là toàn bộ kỳ chuyển quyền hoặc kỳ chuyển quyền được quy định ban đầu bởi bên bị mua, tùy thuộc giá trị nào lớn hơn. Kỳ chuyển quyền là thời gian mà trong đó, các điều kiện chuyển quyền phải được đáp ứng. Điều kiện chuyển quyền được định nghĩa tại IFRS 2.

B59 Khoản thưởng thay thế chưa hoàn thành điều kiện chuyển quyền, trả cho dịch vụ được thực hiện sau hợp nhất và do đó, được ghi nhận là chi phí thù lao trong báo cáo tài chính sau hợp nhất, được tính bằng tổng giá thị trường của thưởng thay thế trừ đi khoản thưởng liên quan đến dịch vụ trước hợp nhất. Do đó, bên mua tính phần vượt trội của giá thị trường của khoản thưởng thay thế trừ đi giá thị trường của khoản thưởng được phát hành bởi bên bị mua vào phần dịch vụ sau hợp nhất, và ghi nhận khoản vượt đó là chi phí thù lao trong báo cáo tài chính sau hợp nhất kinh doanh. Nếu bên mua cần người lao động tiếp tục làm việc sau hợp nhất kinh doanh, bên mua phải tính khoản thưởng thay thế vào phần dịch vụ sau hợp nhất, bất kể người lao động đã hoàn thành toàn bộ dịch vụ được được yêu cầu để khoản thưởng do bên bị mua trả đạt được điều kiện chuyển quyền trước ngày mua hay chưa.

B60 Phần mà khoản thưởng thay thế chưa hoàn thành điều kiện chuyển quyền trả cho dịch vụ trước cũng như sau hợp nhất là ước tính sẵn có tốt nhất cho số lượng khoản thưởng thay thế dự tính sẽ đạt được điều kiện chuyển quyền. Ví dụ, nếu giá thị trường của khoản thưởng thay thế được tính cho phần dịch vụ trước hợp nhất là 100 CU và bên mua kỳ vọng rằng, chỉ có 95% khoản thưởng sẽ đạt được điều kiện chuyển quyền, thì số tiền được đưa vào tính trong giá mua hợp nhất kinh doanh đã chuyển giao là 95 CU. Khi có thay đổi số lượng khoản thưởng thay thế ước tính đạt được điều kiện chuyển quyền, phần thay đổi đó được ghi nhận là chi phí thù lao trong các kỳ xảy ra thay đổi hoặc khi hiệu lực chuyển quyền hết, chứ không được điều chỉnh vào giá mua được chuyển giao trong hợp nhất kinh doanh. Tương tự, ảnh hưởng của những sự kiện khác, như các điều chỉnh hoặc kết quả cuối cùng của các khoản thưởng có điều kiện về kết quả phát sinh sau ngày mua được ghi nhận theo quy định của IFRS 2 về xác định chi phí thù lao trong kỳ mà sự kiện đó xảy ra.

B61 Các yêu cầu cần áp dụng khi xác định khoản thưởng thay thế được tính là cho dịch vụ trước hay sau hợp nhất đều giống nhau, bất kể khoản thưởng thay thế được phân loại là nợ phải trả hay công cụ vốn theo các quy định tại IFRS 2. Mọi thay đổi về giá thị trường của các khoản thưởng được phân loại là nợ phải trả sau ngày mua và ảnh hưởng tương ứng về thuế thu nhập được ghi nhận trong báo cáo tài chính sau hợp nhất kinh doanh của bên mua trong (những) kỳ kế toán mà sự kiện đó phát sinh.

B62 Ảnh hưởng về thuế thu nhập của các thưởng thay thế của thanh toán dựa trên cơ sở cổ phiếu phải được ghi nhận các điều khoản của IAS 12 Thuế thu nhập.​
 
Các IFRS hướng dẫn xác định giá trị và kế toán sau ghi nhận ban đầu khác (áp dụng đoạn 54)

B63 Ví dụ về các IFRS khác hướng dẫn xác định giá trị và kế toán sau ghi nhận ban đầu cho tài sản được mua và nợ phải trả nhận về hoặc phát sinh trong hợp nhất kinh doanh bao gồm:

(a) IAS 38 hướng dẫn kế toán cho các tài sản vô hình có thể xác định được mua trong hợp nhất kinh doanh. Bên mua xác định giá trị lợi thế thương mại theo giá trị được ghi nhận tại ngày mua trừ đi suy giảm giá trị lũy kế. IAS 36 Giảm giá tài sản hướng dẫn kế toán cho tổn thất do giảm giá.

(b) [đã xóa]

(c) IAS 12 hướng dẫn kế toán sau hợp nhất kinh doanh cho các tài sản và nợ phải trả thuế thu nhập hoãn lại (bao gồm cả tài sản thuế thu nhập hoãn lại chưa ghi nhận) được mua trong giao dịch hợp nhất kinh doanh.

(d) IFRS 2 hướng dẫn xác định giá trị và kế toán sau ghi nhận ban đcho phần giá trị của các thưởng thay thế nhận thanh toán dựa trên cơ sở cổ phiếu được phát hành bởi bên mua liên quan đến dịch vụ được thực hiện trong tương lai của người lao động.

(e) IFRS 10 hướng dẫn kế toán những thay đổi lợi ích của chủ sở hữu của công ty mẹ trong con ty con sau khi nắm quyền kiểm soát.

Thuyết minh (hướng dẫn áp dụng các đoạn 59 và 61)

B64 Để đạt mục tiêu đã nêu tại đoạn 59, bên mua phải công bố thông tin dưới đây cho mỗi giao dịch hợp nhất kinh doanh diễn ra trong kỳ báo cáo:

(a) tên và diễn giải về bên bị mua.

(b) ngày mua.

(c) tỷ lệ phần trăm lợi ích của chủ sở hữu có quyền biểu quyết được mua.

(d) nguyên nhân chủ yếu của giao dịch hợp nhất kinh doanh và phương thức bên mua có được quyền kiểm soát đối với bên bị mua.

(e) mô tả định tính các yếu tố tạo nên lợi thế thương mại được ghi nhận, ví dụ lợi ích từ hiệp lực được kỳ vọng từ việc hợp nhất các hoạt động kinh doanh giữa bên mua và bên bị mua, các tài sản vô hình không đủ điều kiện ghi nhận riêng biệt hay những yếu tố khác.

(f) giá trị hợp lý tại ngày mua của tổng giá mua được chuyển giao trong hợp nhất kinh doanh và giá trị hợp lý tại ngày mua của mỗi loại giá mua chính như:

(i) tiền;

(ii) tài sản hữu hình hoặc vô hình khác, bao gồm một hoạt động kinh doanh hay công ty con của bên mua;

(iii) nợ phải trả đã phát sinh, ví dụ một khoản nợ phải trả cho giá mua hợp nhất tiềm tàng; và

(iv) lợi ích của chủ sở hữu tại bên mua, bao gồm số lượng công cụ hay lợi ích của chủ sở hữu được phát hành hay có thể phát hành và phương pháp xác định giá trị hợp lý của những công cụ và lợi ích này.

(g) đối với các thỏa thuận giá mua tiềm tàng và tài sản bồi thường:

(i) giá trị ghi nhận tại ngày mua;

(ii) mô tả thỏa thuận và cơ sở để xác định giá trị của khoản thanh toán; và

(iii) khoảng giá trị ước tính của kết quả (chưa chiết khấu) hoặc nếu không thể ước tính khoảng giá trị, thì trình bày thực tế đó và lý do tại sao không thể ước tính được. Nếu giá trị tối đa của khoản phải trả là không có giới hạn thì bên mua phải trình bày như vậy.

(h) đối với khoản phải thu được mua:

(i) giá trị hợp lý của khoản phải thu;

(ii) giá trị gộp của các khoản phải thu theo hợp đồng; và

(iii) ước tính tốt nhất tại ngày mua về những dòng tiền theo hợp đồng không có khả năng thu hồi.

Phải trình bày thuyết mình cho các nhóm phải thu chính như khoản cho vay, cho thuê tài chính trực tiếp hay các loại phải thu khác.

(i) giá trị ghi nhận tại ngày mua của các nhóm chính tài sản được mua và nợ phải trả nhận về.

(j) đối với mỗi khoản nợ phải trả tiềm tàng được ghi nhận theo đoạn 23, cần trình bày thông tin theo yêu cầu tại đoạn 85 của IAS 37 Dự phòng, nợ tiềm tàng và tài sản tiềm tàng. Nếu một khoản nợ phải trả tiềm tàng không được ghi nhận do không thể được xác định được giá trị hợp lý của nó một cách đáng tin cậy, bên mua phải trình bày:

(i) những thông tin được yêu cầu tại đoạn 86 của IAS 37; và

(ii) lý do khoản nợ phải trả không thể được xác định giá trị một cách đáng tin cậy.

(k) tổng giá trị của lợi thế thương mại kỳ vọng sẽ được giảm trừ cho mục đích thuế.

(l) đối với những giao dịch được ghi nhận riêng biệt với việc mua lại tài sản hay nhận nợ phải trả trong giao dịch hợp nhất kinh doanh theo đoạn 51:

(i) mô tả mỗi giao dịch;

(ii) phương pháp kế toán mỗi giao dịch của bên mua;

(iii) giá trị ghi nhận của mỗi giao dịch và khoản mục trên báo cáo tài chính mà giá trị đó được ghi nhận; và

(iv) nếu giao dịch về bản chất là để thanh toán cho một quan hệ tồn tại trước hợp nhất kinh doanh, cần trình bày phương pháp sử dụng để xác định giá trị của khoản thanh toán này.

(m) việc công bố những giao dịch được ghi nhận riêng biệt được yêu cầu tại đoạn (I) phải bao gồm những chi phí có liên quan đến giao dịch mua và giá trị của những khoản chi phí này được ghi nhận riêng biệt là một khoản chi phí phát sinh trên một hoặc nhiều khoản mục trên báo cáo lãi hoặc lỗ toàn diện. Giá trị của những khoản chi phí không được ghi nhận là chi phí phát sinh và phương pháp ghi nhận những khoản này cũng phải được trình bày.

(n) trong giao dịch mua rẻ (xem các đoạn 34-36):

(i) giá trị của các khoản lãi được ghi nhận theo đoạn 34 và khoản mục trên báo cáo lãi hoặc lỗ toàn diện mà khoản lãi đó được ghi nhận; và

(ii) diễn giải lý do có lãi từ những giao dịch này.

(o) với giao dịch hợp nhất kinh doanh trong đó bên mua nắm giữ ít hơn 100% lợi ích của chủ sở hữu tại bên bị mua tại ngày mua:

(i) giá trị của lợi ích của cổ đông không kiểm soát tại bên bị mua được ghi nhận tại ngày mua và cơ sở đo lường giá trị đó; và

(ii) đối với mỗi lợi ích của cổ đông không kiểm soát tại bên bị mua được đo lường theo giá trị hợp lý, cần trình bày (các) kỹ thuật định giá và các yếu tố đầu vào chính được sử dụng để xác định giá trị đó.

(p) đối với giao dịch hợp nhất kinh doanh theo giai đoạn:

(i) giá trị hợp lý tại ngày mua của lợi ích của chủ sở hữu tại bên bị mua do bên mua nắm giữ ngay trước ngày mua; và

(ii) giá trị của bất kỳ khoản lãi hay lỗ được ghi nhận nào do việc xác định lại giá trị theo giá trị hợp lý những lợi ích của chủ sở hữu tại bên bị mua do bên mua nắm giữ trước khi hợp nhất kinh doanh (xem đoạn 42) và khoản mục trên báo cáo lãi hoặc lỗ toàn diện mà khoản lãi hay lỗ đó được ghi nhận.

(q) các thông tin dưới đây:

(i) doanh thu, lợi nhuận hay lỗ của bên bị mua kể từ ngày mua được bao gồm trong báo cáo thu nhập toàn diện hợp nhất cho kỳ báo cáo; và

(ii) doanh thu, lợi nhuận hay lỗ của đơn vị sau hợp nhất kinh doanh trong kỳ báo cáo hiện tại với giả định ngày mua của tất cả các giao dịch hợp nhất kinh doanh diễn ra trong năm là diễn ra vào ngày đầu tiên của kỳ báo cáo thường niên.

Nếu việc công bố thông tin được yêu cầu bởi đoạn trên không thể thực hiện được, bên mua phải trình bày như vậy và giải thích lý do không thực hiện được. Trong IFRS này, thuật ngữ “không thể thực hiện được” có cùng ý nghĩa như trong IAS 8 Chính sách kế toán, thay đổi ước tính kế toán và sai sót.​
 
B65 Đối với những giao dịch hợp nhất kinh doanh xảy ra trong kỳ báo cáo không trọng yếu nếu tính riêng lẻ nhưng trọng yếu khi tính gộp với nhau, bên mua phải công bố gộp những thông tin được nêu tại các đoạn B64(e)-(q).

B66 Nếu ngày mua của giao dịch hợp nhất kinh doanh xảy ra sau ngày kết thúc kỳ báo cáo nhưng trước ngày báo cáo tài chính được phê duyệt để phát hành, bên mua phải trình bày các thông tin nêu tại đoạn B64 trừ khi việc kế toán ban đầu cho hợp nhất kinh doanh chưa được hoàn thành tại thời điểm báo cáo tài chính được phê duyệt để phát hành. Trong trường hợp đó, bên mua diễn giải những thông tin không thể trình bày và lý do việc trình bày không thực hiện được.

B67 Để đáp ứng mục tiêu nêu tại đoạn 61, bên mua phải trình bày những thông tin dưới đây cho mỗi giao dịch hợp nhất kinh doanh trọng yếu hay tổng hợp cho những giao dịch hợp nhất kinh doanh đơn lẻ không trọng yếu nhưng trọng yếu khi tính gộp với nhau:

(a) nếu việc kế toán ban đầu của giao dịch hợp nhất kinh doanh chưa được hoàn thành (xem đoạn 45) cho một tài sản, nợ phải trả, lợi ích của cổ đông không kiểm soát hay khoản mục được bao gồm trong giá mua nào đó và do đó, giá trị được ghi nhận trong báo cáo tài chính chỉ mới được xác định tạm thời:

(i) nguyên nhân kế toán ban đầu cho hợp nhất kinh doanh chưa được hoàn thành;

(ii) các tài sản, nợ phải trả, lợi ích của chủ sở hữu hay những khoản mục của giá mua trong hợp nhất kinh doanh mà ghi nhận ban đầu chưa hoàn thành; và

(iii) bản chất và giá trị của các điều chỉnh trong giai đoạn xác định giá trị được ghi nhận trong kỳ báo cáo theo hướng dẫn tại đoạn 49.

(b) đối với mỗi kỳ báo cáo sau ngày mua cho đến khi đơn vị nhận, bán hay mất quyền đối với tài sản là giá mua tiềm tàng, hay cho đến khi đơn vị thanh toán khoản nợ tiềm tàng trong giá mua hoặc khoản nợ phải trả được hủy bỏ hay hết hạn:

(i) mọi thay đổi về giá trị ghi nhận, bao gồm mọi chênh lệch phát sinh từ việc thanh toán;

(ii) mọi thay đổi trong khoảng kết quả (chưa chiết khấu) và nguyên nhân thay đổi; và

(iii) kỹ thuật định giá và những yếu tố đầu vào chính sử dụng để xác định giá trị giá mua tiềm tàng.

(c) liên quan đến các khoản nợ tiềm tàng được ghi nhận trong giao dịch hợp nhất kinh doanh, đối với mỗi loại dự phòng, bên mua phải công bố những thông tin được nêu ở các đoạn 84 và 85 của IAS 37.

(d) đối chiếu giá trị ghi sổ của lợi thế thương mại tại thời điểm đầu và cuối kỳ báo cáo trong đó các thông tin sau được trình bày riêng biệt:

(i) giá trị gộp và tổn thất suy giảm giá trị lũy kế tại thời điểm đầu kỳ báo cáo.

(ii) lợi thế thương mại tăng thêm được ghi nhận trong kỳ báo cáo, ngoại trừ lợi thế thương mại trong nhóm thanh lý mà tại ngày mua thỏa mãn điều kiện để phân loại vào nhóm nắm giữ để bán theo IFRS 5 Tài sản dài hạn giữ để bán và những bộ phận ngừng hoạt động.

(iii) những điều chỉnh phát sinh từ việc ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại sau ghi nhận ban đầu trong kỳ báo cáo theo đoạn 67.

(iv) lợi thế thương mại trong nhóm thanh lý được phân loại vào nhóm nắm giữ để bán theo IFRS 5 và lợi thế thương mại được dừng ghi nhận trong kỳ báo cáo mà trước đó không nằm trong nhóm thanh lý trước được phân loại vào nhóm nắm giữ để bán.

(v) tổn thất do giảm giá được ghi nhận trong kỳ báo cáo theo IAS 36. (Ngoài các yêu cầu của IFRS này, IAS 36 yêu cầu công bố những thông tin về giá trị có thể thu hồi và suy giảm giá trị lợi thế thương mại.)

(vi) chênh lệch tỷ giá thuần phát sinh trong kỳ báo cáo theo IAS 2 Ảnh hưởng của chêch lệch tỷ giá.

(vii) bất kỳ thay đổi nào khác về giá trị ghi sổ trong suốt kỳ báo cáo.

(viii) giá trị gộp và khoản tổn thất do giảm giá trị lũy kế vào cuối kỳ báo cáo.

(e) giá trị và nguyên nhân của các khoản lãi hay lỗ được ghi nhận trong kỳ báo cáo hiện tại mà:

(i) liên quan đến các tài sản được mua hay nợ phải trả nhận về có thể xác định được trong giao dịch hợp nhất kinh doanh được thực hiện trong kỳ báo báo cáo hiện tại hay kỳ trước đó; và

(ii) có lượng, bản chất hay tần suất xảy ra đạt một mức độ nào đó làm cho việc công bố thông tin là phù hợp để hiểu báo cáo tài chính của đơn vị sau hợp nhất kinh doanh.​
 
Điều khoản chuyển tiếp cho giao dịch hợp nhất kinh doanh chỉ giữa các đơn vị tương hỗ hay chỉ theo quy định trong hợp đồng (áp dụng đoạn 66)

B68 Đoạn 64 nêu rằng IFRS này chỉ áp dụng phi hồi tố cho các giao dịch hợp nhất kinh doanh có ngày mua đúng vào hay sau khi bắt đầu kỳ báo cáo thường niên đầu tiên có ngày bắt đầu vào hay sau ngày 1 tháng 7 năm 2009. Cho phép áp dụng sớm. Tuy nhiên, đơn vị chỉ phải áp dụng IFRS này vào đầu một kỳ báo cáo thường niên có ngày bắt đầu vào hoặc sau ngày 30 tháng 6 năm 2007. Nếu một đơn vị áp dụng IFRS này trước ngày có hiệu lực, đơn vị phải công bố việc áp dụng sớm này và phải đồng thời áp dụng IAS 27 (như được điều chỉnh vào năm 2008).

B69 Nếu một giao dịch hợp nhất kinh doanh có ngày mua trước ngày áp dụng IFRS này, yêu cầu áp dụng phi hồi tố IFRS này có các ảnh hưởng sau đây đến giao dịch hợp nhất kinh doanh chỉ giữa những đơn vị tương hỗ hay chỉ theo quy định trong hợp đồng:

(a) Phân loại - Đơn vị phải tiếp tục phân loại giao dịch hợp nhất kinh doanh trước đó theo chính sách kế toán trước đó của đơn vị, thường áp cho các giao dịch hợp nhất kinh doanh này.

(b) Lợi thế thương mại được ghi nhận trước đó - Vào thời điểm bắt đầu kỳ báo cáo thường niên đầu tiên mà IFRS này được áp dụng, giá trị ghi sổ của lợi thế thương mại phát sinh từ các giao dịch hợp nhất kinh doanh trước đó sẽ là giá trị ghi sổ tại ngày đó theo các chính sách kế toán trước đó của đơn vị. Khi xác định giá trị này, đơn vị phải loại bỏ giá trị ghi sổ của khấu hao lũy kế của lợi thế thương mại và phần ghi giảm giá trị lợi thế thương mại tương ứng. Không có điều chỉnh nào khác được thực hiện đối với giá trị lợi thế thương mại.

(c) Lợi thế thương mại trước đó được ghi nhận là một khoản giảm trừ vốn chủ sở hữu - Chính sách kế toán trước đây của đơn vị có thể đã yêu cầu ghi nhận khoản lợi thế thương mại phát sinh từ giao dịch hợp nhất kinh doanh trước đây là khoản giảm trừ vốn chủ sở hữu. Trong trường hợp đó, đơn vị không phải ghi nhận lợi thế thương mại này là một tài sản vào đầu kỳ báo cáo thường niên đầu tiên mà IFRS này được áp dụng. Thêm vào đó, khi thanh lý toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh mà lợi thế thương mại đó có liên quan, hay khi một đơn vị tạo dòng tiền có liên quan tới lợi thế thương mại đó bị giảm giá, đơn vị không phải ghi nhận phần nào trong lợi thế thương mại này là lãi hay lỗ.

(d) Kế toán lợi thế thương mại sau ghi nhận ban đầu – Kể từ ngày bắt đầu kỳ kế toán năm đầu tiên áp dụng IFRS này, đơn vị phải dừng phân bổ lợi thế thương mại phát sinh từ giao dịch hợp nhất kinh doanh trước đó và phải đánh giá giảm giá trị của lợi thế thương mại theo IAS 36.

(e) Lợi thế thương mại âm được ghi nhận trước đó – Đơn vị đã kế toán cho các giao dịch hợp nhất kinh doanh trước đó áp dụng phương pháp mua cũ có thể đã ghi nhận một khoản thu nhập hoãn lại cho khoản chênh lệch của (i) lợi ích của đơn vị trong giá trị hợp lý thuần của các tài sản và nợ phải trả có thể xác định được của bên bị mua, cao hơn (ii) giá bỏ ra để thu được lợi ích đó (đôi khi còn gọi là lợi thế thương mại âm). Nếu vậy, đơn vị phải dừng ghi nhận giá trị còn lại của khoản thu nhập hoãn lại này tại thời điểm bắt đầu kỳ kế toán năm đầu tiên mà IFRS này được áp dụng và điều chỉnh số dư đầu kỳ của lợi nhuận giữ lại tại ngày đó một cách tương ứng.


Phụ lục C
Sửa đổi các chuẩn mực IFRS khác


Các sửa đổi tại phụ lục này phải được áp dụng cho các kỳ báo cáo thường niên bắt đầu vào hoặc sau ngày 1 tháng 7 năm 2009. Nếu đơn vị nào áp dụng IFRS này cho kỳ báo cáo sớm hơn, thì những sửa đổi này phải áp dụng cho kỳ báo cáo sớm hơn đó. Các đoạn sửa đổi được trình bày dưới dạng chữ gạch chân đối với nội dung mới và chữ gạch ngang giữa đối với nội dung bị xóa.​
 

Thành viên trực tuyến

Không có thành viên trực tuyến.
Top