- Bài viết
- 479
- Được Like
- 0
Lãi suất chiết khấu
A15. Bất kỳ phương pháp nào thì khi đơn vị áp dụng xác định giá trị sử dụng của tài sản thì tỷ lệ lãi suất được dùng để chiết khấu dòng tiền sẽ không phản ánh rủi ro mà dòng tiền ước tính đã được điều chỉnh. Nếu không, ảnh hưởng của một số giả định sẽ bị tính trùng.
A16. Khi lãi suất cụ thể của tài sản không sẵn có trên thị trường thì đơn vị nên dùng lãi suất thay thế để ước tính lãi suất chiết khấu. Mục đích là để ước tính, càng nhiều càng tốt, đánh giá thị trường về׃
(a) giá trị thời gian của tiền cho các thời kỳ đến cuối thời gian sử dụng của tài sản; và
(b) các yếu tố b, d và e được mô tả trong đoạn A1, trong phạm vi các yếu tố đó không gây ra sự điều chỉnh vè dòng tiền ước tính.
A17. Khi bắt đầu thực hiện ước tính, đơn vị có thể xem xét các tỷ lệ dưới đây׃
(a) chi phí vốn bình quân gia quyền được xác định bằng việc dùng kỹ thuật chẳng hạn như mô hình định giá tài sản vốn (CAPM);
(b) lãi vay gia tăng của đơn vị; và
(c) tỷ lệ lãi vay thị trường khác.
A18. Tuy nhiên tỷ lệ này phải được điều chỉnh:
(a) để phản ánh cách mà thị trường sẽ đánh giá rủi ro cụ thể liên quan đến dòng tiền ước tính của tài sản; và
(b) không bao gồm các rủi ro mà chúng không phù hợp với dòng tiền ước tính của tài sản hoặc theo đó dòng tiền ước tính đã được điều chỉnh.
Cần xem xét các rủi ro như rủi ro quốc gia, rủi ro ngoại tệ và rủi ro giá cả.
A19. Lãi suất chiết khấu độc lập với cấu trúc vốn của đơn vị và cách mà đơn vị tài trợ mua tài sản, bởi vì dòng tiền tương lai dự kiến phát sinh từ tài sản không phụ thuộc vào cách mà đơn vị tài trợ mua tài sản.
A20. Đoạn 55 yêu cầu lãi suất chiết khấu sử dụng là tỷ lệ trước thuế. Bởi vậy, khi đơn vị sử dụng để ước tính lãi suất chiết khấu là tỷ lệ sau thuế thì đơn vị đó phải điều chỉnh về tỷ lệ trước thuế.
A21. Đơn vị bình thường sử dụng một lãi suất chiết khấu cho việc ước tính giá trị sử dụng của tài sản. Tuy nhiên, đơn vị sử dụng lãi suất chiết khấu riêng biệt cho các thời kỳ tương lai khác nhau khi giá trị sử dụng nhạy cảm với sự khác biệt về rủi ro cho các thời kỳ khác nhau hoặc cho cấu trúc kỳ hạn của lãi suất.
A15. Bất kỳ phương pháp nào thì khi đơn vị áp dụng xác định giá trị sử dụng của tài sản thì tỷ lệ lãi suất được dùng để chiết khấu dòng tiền sẽ không phản ánh rủi ro mà dòng tiền ước tính đã được điều chỉnh. Nếu không, ảnh hưởng của một số giả định sẽ bị tính trùng.
A16. Khi lãi suất cụ thể của tài sản không sẵn có trên thị trường thì đơn vị nên dùng lãi suất thay thế để ước tính lãi suất chiết khấu. Mục đích là để ước tính, càng nhiều càng tốt, đánh giá thị trường về׃
(a) giá trị thời gian của tiền cho các thời kỳ đến cuối thời gian sử dụng của tài sản; và
(b) các yếu tố b, d và e được mô tả trong đoạn A1, trong phạm vi các yếu tố đó không gây ra sự điều chỉnh vè dòng tiền ước tính.
A17. Khi bắt đầu thực hiện ước tính, đơn vị có thể xem xét các tỷ lệ dưới đây׃
(a) chi phí vốn bình quân gia quyền được xác định bằng việc dùng kỹ thuật chẳng hạn như mô hình định giá tài sản vốn (CAPM);
(b) lãi vay gia tăng của đơn vị; và
(c) tỷ lệ lãi vay thị trường khác.
A18. Tuy nhiên tỷ lệ này phải được điều chỉnh:
(a) để phản ánh cách mà thị trường sẽ đánh giá rủi ro cụ thể liên quan đến dòng tiền ước tính của tài sản; và
(b) không bao gồm các rủi ro mà chúng không phù hợp với dòng tiền ước tính của tài sản hoặc theo đó dòng tiền ước tính đã được điều chỉnh.
Cần xem xét các rủi ro như rủi ro quốc gia, rủi ro ngoại tệ và rủi ro giá cả.
A19. Lãi suất chiết khấu độc lập với cấu trúc vốn của đơn vị và cách mà đơn vị tài trợ mua tài sản, bởi vì dòng tiền tương lai dự kiến phát sinh từ tài sản không phụ thuộc vào cách mà đơn vị tài trợ mua tài sản.
A20. Đoạn 55 yêu cầu lãi suất chiết khấu sử dụng là tỷ lệ trước thuế. Bởi vậy, khi đơn vị sử dụng để ước tính lãi suất chiết khấu là tỷ lệ sau thuế thì đơn vị đó phải điều chỉnh về tỷ lệ trước thuế.
A21. Đơn vị bình thường sử dụng một lãi suất chiết khấu cho việc ước tính giá trị sử dụng của tài sản. Tuy nhiên, đơn vị sử dụng lãi suất chiết khấu riêng biệt cho các thời kỳ tương lai khác nhau khi giá trị sử dụng nhạy cảm với sự khác biệt về rủi ro cho các thời kỳ khác nhau hoặc cho cấu trúc kỳ hạn của lãi suất.