Hồng Nhung
Administrator
- Bài viết
- 45
- Được Like
- 1
IFRS 1 – "Lần đầu áp dụng IFRS" là một chuẩn mực kế toán quan trọng, mang lại hướng dẫn chi tiết cho các doanh nghiệp lần đầu tiên chuyển đổi sang hệ thống báo cáo tài chính quốc tế IFRS. Việc áp dụng IFRS 1 đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ nắm rõ các nguyên tắc kế toán cơ bản mà còn hiểu cách vận dụng chúng trong quá trình lập báo cáo. Bài viết này Web IFRS sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mục tiêu, phạm vi và những yêu cầu quan trọng của IFRS 1, qua đó cung cấp cái nhìn tổng quan về các bước cần thiết để thực hiện chuyển đổi một cách hiệu quả và đúng chuẩn.
I. Giới thiệu về IFRS 1
IFRS 1 quy định các thủ tục mà một đơn vị cần phải tuân thủ khi lập Báo cáo tài chính theo IFRS lần đầu tiên. Báo cáo tài chính theo IFRS lần đầu tiên cần bao gồm một bộ Báo cáo tài chính cho kỳ đầu tiên áp dụng và cả năm liền trước đó.
IFRS 1 được ban hành lần đầu vào tháng 06/2003 thay thế cho SIC-8 - Lần đầu áp dụng IAS làm cơ sở lập báo cáo ban hành vào tháng 04/2001. Sau một vài lần thay đổi nhỏ về nội dung, phiên bản IFRS 1 hiện nay được IASB tái phát hành vào tháng 11/2008 và có hiệu lực cho các Báo cáo tài chính được lập lần đầu tiên theo IFRS có năm tài chính bắt đầu từ ngày 01/07/2009.
Kể từ thời điểm tháng 11/2008 đến nay, IFRS 1 cũng được sửa đổi một số nội dung nhỏ theo các Chương trình cải tiến IFRS (Improvements to IFRSs) 2009, 2010, Chương trình cải tiến hàng năm (Annual Improvements) cho chu kỳ 2009 - 2011 và để phù hợp với sự thay đổi của các Chuẩn mực khác.
Các đơn vị lần đầu áp dụng IFRS hoặc những đơn vị đã sử dụng IFRS 1 trong các kỳ trước đó đều có quyền hồi tố các sửa đổi cho năm tài chính đầu tiên sau khi sửa đổi có hiệu lực. Các vấn đề như siêu lạm phát và việc bỏ ngày áp dụng cố định, sửa đổi IFRS 1 vào tháng 12 năm 2010, cũng có hiệu lực từ 1 tháng 7 năm 2011.
Các sửa đổi liên quan đến nợ vay Chính phủ, ban hành tháng 3 năm 2012, có hiệu lực từ năm tài chính bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2013. Sự áp dụng sớm các cập nhật này cũng được cho phép, với điều kiện phải công bố đầy đủ trong báo cáo tài chính.
II. Mục tiêu
Mục tiêu của Chuẩn mực này là đưa ra một loạt các quy định và thủ tục đối với Báo cáo tài chính được lập lần đầu theo IFRS và các báo cáo tài chính giữa niên độ của các kỳ trong năm tài chính đó đảm bảo tính minh bạch đối với người sử dụng, khả năng có thể so sánh giữa các kỳ được trình bày, đưa ra xuất phát điểm hợp lý cho việc kế toán theo IFRS và các chi phí phát sinh không vượt quá giá trị lợi ích mang lại.
III. Một số định nghĩa về Đơn vị lần đầu áp dụng IFRS
Đơn vị lần đầu áp dụng IFRS được định nghĩa là Đơn vị lần đầu lập báo cáo tài chính tuân thủ hoàn toàn và tuyệt đối IFRS.
Đơn vị cũng được coi là đơn vị lần đầu áp dụng IFRS nếu trong năm trước đó đơn vị đã lập báo cáo tài chính theo IFRS cho mục đích sử dụng nội bộ, mà không cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như nhà đầu tư của đơn vị hoặc chủ nợ. Nếu bộ báo cáo tài chính được lập theo IFRS trong năm trước đó, dù với bất kỳ lý do nào, đã được cung cấp cho nhà đầu tư hoặc đối tượng bên ngoài thì đơn vị không được coi là Đơn vị lần đầu áp dụng IFRS, và đơn vị sẽ không được phép áp dụng IFRS 1.
Đơn vị cũng được coi là đơn vị lần đầu áp dụng IFRS nếu Báo cáo tài chính của năm trước đó:
- Xóa sổ các tài sản và công nợ được ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán cũ
Đơn vị cần tiến hành xóa sổ các tài sản và công nợ đã được ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán cũ tại thời điểm đầu kỳ trên Báo cáo tình hình tài chính nếu chúng không đủ tiêu chuẩn ghi nhận theo IFRS.
- Ghi nhận một số tài sản và công nợ chưa được ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán cũ
Ngược lại với việc xóa sổ ở trên, đơn vị cần ghi nhận các tài sản và công nợ theo quy định của IFRS nhưng không được ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán cũ
- Phân loại lại
Đơn vị cần tiến hành phân loại lại một số số dư đầu kỳ đã được ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán cũ sang các khoản mục phù hợp theo quy định của IFRS
- Xác định giá trị tài sản và nợ phải trả
Đơn vị phải xác định giá trị tài sản và nợ phải trả theo các quy định của các Chuẩn mực IFRS có hiệu lực ngoại trừ một số ngoại lệ dưới đây.
- Cách ghi nhận các điều chỉnh khi chuyển đổi từ
Chuẩn mực kế toán cũ sang IFRS Đơn vị phải ghi nhận các điều chỉnh này trực tiếp vào lợi nhuận chưa phân phối (hoặc vào khoản mục khác của vốn chủ sở hữu, nếu phù hợp) tại ngày chuyển đổi sang áp dụng IFRS.
- Ước tính
Các ước tính của đơn vị theo IFRS vào ngày chuyển đổi sang áp dụng IFRS phải nhất quán với các ước tính tại cùng một thời điểm khi áp dụng Chuẩn mực kế toán cũ trước đó (sau khi đã điều chỉnh để phản ánh các khác biệt trong chính sách kế toán), trừ khi có bằng chứng khách quan cho thấy các ước tính được lập trước đây có sai sót.
- Thay đổi về trình bày
Đối với nhiều đơn vị, một số thông tin mới cần được trình bày trên Báo cáo IFRS mà Chuẩn mực kế toán cũ không yêu cầu (như thông tin bộ phận, lãi trên cổ phiếu, bộ phận ngừng hoạt động, giá trị hợp lý của công cụ tài chính) hoặc cần được trình bày chi tiết hơn so với Chuẩn mực kế toán cũ (như trình bày thông tin về các bên liên quan).
- Thông tin so sánh không được lập theo IFRS và tóm tắt dữ liệu quá khứ
Một số đơn vị trình bày tóm tắt một số dữ liệu quá khứ cho các giai đoạn trước kỳ đầu tiên đơn vị trình bày đầy đủ các thông tin so sánh theo IFRS. Theo quy định của IFRS 1, các thông tin tóm tắt này không yêu cầu phải phù hợp với các quy định về việc ghi nhận và xác định giá trị của IFRS.
- Giải thích quá trình chuyển đổi sang áp dụng IFRS
Đơn vị phải trình bày việc chuyển đổi từ các Chuẩn mực kế toán cũ sang IFRS ảnh hưởng như thế nào đến tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ đã báo cáo trước đây.
IFRS 1 là một chuẩn mực kế toán quan trọng, đặt nền móng cho quá trình chuyển đổi sang hệ thống báo cáo tài chính quốc tế cho các doanh nghiệp lần đầu áp dụng IFRS. Việc tuân thủ IFRS 1 không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư quốc tế và mở rộng hoạt động trên thị trường toàn cầu. Hy vọng rằng bài viết trên của Web IFRS đã cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về IFRS 1 và những lợi ích thiết thực mà nó mang lại trong quá trình hội nhập tài chính quốc tế.
IFRS 1 quy định các thủ tục mà một đơn vị cần phải tuân thủ khi lập Báo cáo tài chính theo IFRS lần đầu tiên. Báo cáo tài chính theo IFRS lần đầu tiên cần bao gồm một bộ Báo cáo tài chính cho kỳ đầu tiên áp dụng và cả năm liền trước đó.
IFRS 1 được ban hành lần đầu vào tháng 06/2003 thay thế cho SIC-8 - Lần đầu áp dụng IAS làm cơ sở lập báo cáo ban hành vào tháng 04/2001. Sau một vài lần thay đổi nhỏ về nội dung, phiên bản IFRS 1 hiện nay được IASB tái phát hành vào tháng 11/2008 và có hiệu lực cho các Báo cáo tài chính được lập lần đầu tiên theo IFRS có năm tài chính bắt đầu từ ngày 01/07/2009.
Kể từ thời điểm tháng 11/2008 đến nay, IFRS 1 cũng được sửa đổi một số nội dung nhỏ theo các Chương trình cải tiến IFRS (Improvements to IFRSs) 2009, 2010, Chương trình cải tiến hàng năm (Annual Improvements) cho chu kỳ 2009 - 2011 và để phù hợp với sự thay đổi của các Chuẩn mực khác.
Các đơn vị lần đầu áp dụng IFRS hoặc những đơn vị đã sử dụng IFRS 1 trong các kỳ trước đó đều có quyền hồi tố các sửa đổi cho năm tài chính đầu tiên sau khi sửa đổi có hiệu lực. Các vấn đề như siêu lạm phát và việc bỏ ngày áp dụng cố định, sửa đổi IFRS 1 vào tháng 12 năm 2010, cũng có hiệu lực từ 1 tháng 7 năm 2011.
Các sửa đổi liên quan đến nợ vay Chính phủ, ban hành tháng 3 năm 2012, có hiệu lực từ năm tài chính bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2013. Sự áp dụng sớm các cập nhật này cũng được cho phép, với điều kiện phải công bố đầy đủ trong báo cáo tài chính.
II. Mục tiêu
Mục tiêu của Chuẩn mực này là đưa ra một loạt các quy định và thủ tục đối với Báo cáo tài chính được lập lần đầu theo IFRS và các báo cáo tài chính giữa niên độ của các kỳ trong năm tài chính đó đảm bảo tính minh bạch đối với người sử dụng, khả năng có thể so sánh giữa các kỳ được trình bày, đưa ra xuất phát điểm hợp lý cho việc kế toán theo IFRS và các chi phí phát sinh không vượt quá giá trị lợi ích mang lại.
III. Một số định nghĩa về Đơn vị lần đầu áp dụng IFRS
Đơn vị lần đầu áp dụng IFRS được định nghĩa là Đơn vị lần đầu lập báo cáo tài chính tuân thủ hoàn toàn và tuyệt đối IFRS.
Đơn vị cũng được coi là đơn vị lần đầu áp dụng IFRS nếu trong năm trước đó đơn vị đã lập báo cáo tài chính theo IFRS cho mục đích sử dụng nội bộ, mà không cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như nhà đầu tư của đơn vị hoặc chủ nợ. Nếu bộ báo cáo tài chính được lập theo IFRS trong năm trước đó, dù với bất kỳ lý do nào, đã được cung cấp cho nhà đầu tư hoặc đối tượng bên ngoài thì đơn vị không được coi là Đơn vị lần đầu áp dụng IFRS, và đơn vị sẽ không được phép áp dụng IFRS 1.
Đơn vị cũng được coi là đơn vị lần đầu áp dụng IFRS nếu Báo cáo tài chính của năm trước đó:
- Trình bày việc tuân thủ một số Chuẩn mực nhưng không phải là tất cả các Chuẩn mực của IFRS, hoặc
- Trình bày bảng đối chiếu giữa số liệu được lập theo Chuẩn mực kế toán cũ và số liệu được lập theo IFRS. (Chuẩn mực kế toán cũ, “Previous GAAP”, là các Chuẩn mực kế toán của quốc gia được áp dụng ngay trước khi áp dụng IFRS).
- Trình bày việc tuân thủ hoàn toàn và tuyệt đối các điều khoản của IFRS, ngay cả khi kiểm toán viên của đơn vị đưa ra ý kiến kiểm toán ngoại trừ trên báo cáo kiểm toán đối với những báo cáo tài chính đó; hoặc
- Báo cáo tuân thủ đồng thời cả Chuẩn mực quốc gia và IFRS.
- Áp dụng các quy định của IFRS 1 (bao gồm cả việc áp dụng các ngoại lệ đối với việc điều chỉnh hồi tố); hoặc
- Áp dụng hồi tố các IFRS theo yêu cầu của Chuẩn mực IAS 8 Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót như là đơn vị chưa từng ngừng áp dụng IFRS.
- Xóa sổ các tài sản và công nợ được ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán cũ
Đơn vị cần tiến hành xóa sổ các tài sản và công nợ đã được ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán cũ tại thời điểm đầu kỳ trên Báo cáo tình hình tài chính nếu chúng không đủ tiêu chuẩn ghi nhận theo IFRS.
- Ghi nhận một số tài sản và công nợ chưa được ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán cũ
Ngược lại với việc xóa sổ ở trên, đơn vị cần ghi nhận các tài sản và công nợ theo quy định của IFRS nhưng không được ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán cũ
- Phân loại lại
Đơn vị cần tiến hành phân loại lại một số số dư đầu kỳ đã được ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán cũ sang các khoản mục phù hợp theo quy định của IFRS
- Xác định giá trị tài sản và nợ phải trả
Đơn vị phải xác định giá trị tài sản và nợ phải trả theo các quy định của các Chuẩn mực IFRS có hiệu lực ngoại trừ một số ngoại lệ dưới đây.
- Cách ghi nhận các điều chỉnh khi chuyển đổi từ
Chuẩn mực kế toán cũ sang IFRS Đơn vị phải ghi nhận các điều chỉnh này trực tiếp vào lợi nhuận chưa phân phối (hoặc vào khoản mục khác của vốn chủ sở hữu, nếu phù hợp) tại ngày chuyển đổi sang áp dụng IFRS.
- Ước tính
Các ước tính của đơn vị theo IFRS vào ngày chuyển đổi sang áp dụng IFRS phải nhất quán với các ước tính tại cùng một thời điểm khi áp dụng Chuẩn mực kế toán cũ trước đó (sau khi đã điều chỉnh để phản ánh các khác biệt trong chính sách kế toán), trừ khi có bằng chứng khách quan cho thấy các ước tính được lập trước đây có sai sót.
- Thay đổi về trình bày
Đối với nhiều đơn vị, một số thông tin mới cần được trình bày trên Báo cáo IFRS mà Chuẩn mực kế toán cũ không yêu cầu (như thông tin bộ phận, lãi trên cổ phiếu, bộ phận ngừng hoạt động, giá trị hợp lý của công cụ tài chính) hoặc cần được trình bày chi tiết hơn so với Chuẩn mực kế toán cũ (như trình bày thông tin về các bên liên quan).
- Thông tin so sánh không được lập theo IFRS và tóm tắt dữ liệu quá khứ
Một số đơn vị trình bày tóm tắt một số dữ liệu quá khứ cho các giai đoạn trước kỳ đầu tiên đơn vị trình bày đầy đủ các thông tin so sánh theo IFRS. Theo quy định của IFRS 1, các thông tin tóm tắt này không yêu cầu phải phù hợp với các quy định về việc ghi nhận và xác định giá trị của IFRS.
- Giải thích quá trình chuyển đổi sang áp dụng IFRS
Đơn vị phải trình bày việc chuyển đổi từ các Chuẩn mực kế toán cũ sang IFRS ảnh hưởng như thế nào đến tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ đã báo cáo trước đây.
IFRS 1 là một chuẩn mực kế toán quan trọng, đặt nền móng cho quá trình chuyển đổi sang hệ thống báo cáo tài chính quốc tế cho các doanh nghiệp lần đầu áp dụng IFRS. Việc tuân thủ IFRS 1 không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư quốc tế và mở rộng hoạt động trên thị trường toàn cầu. Hy vọng rằng bài viết trên của Web IFRS đã cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về IFRS 1 và những lợi ích thiết thực mà nó mang lại trong quá trình hội nhập tài chính quốc tế.
Bài viết liên quan
Bài viết mới