Hồng Nhung
Administrator
- Bài viết
- 45
- Được Like
- 1
1 Mục tiêu của IFRS 13 này:
- định nghĩa về giá trị hợp lý;
- đưa ra khuôn khổ cho việc xác định giá trị hợp lý trong một Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế duy nhất; và
- yêu cầu về trình bày và thuyết minh liên quan đến việc xác định giá trị hợp lý.
2 Giá trị hợp lý được xác định trên cơ sở thông tin thu thập từ thị trường mà không phải là xác định cho một đơn vị cụ thể. Đối với một số tài sản và nợ phải trả, các thông tin từ thị trường hoặc giao dịch tương tự có thể có sẵn. Với các tài sản và nợ phải trả khác, các thông tin và giao dịch trên thị trường có thể không có sẵn. Tuy nhiên, mục tiêu của việc xác định giá trị hợp lý trong cả hai trường hợp đều là để ước tính mức giá mà tại đó một giao dịch tự nguyện có tổ chức để bán tài sản hoặc chuyển nhượng nợ phải trả giả định sẽ diễn ra giữa các bên tham gia thị trường tại ngày xác định giá trị, trong điều kiện thị trường hiện tại (ví dụ giá đầu ra tại ngày xác định giá trị theo đánh giá của bên đang nắm giữ tài sản hoặc khoản nợ phải trả).
3 Trường hợp không thể quan sát được mức giá của tài sản hoặc nợ phải trả trên thị trường, đơn vị xác định giá trị hợp lý của tài sản hoặc khoản nợ phải trả bằng các kỹ thuật định giá sử dụng tối đa các đầu vào quan sát được và tối thiểu các đầu vào không quan sát được trên thị trường. Do được xác định dựa vào các thông tin thu thập được trên thị trường, các kỹ thuật định giá phải bao gồm các giả định mà các bên tham gia thị trường sẽ sử dụng khi định giá tài sản hoặc nợ phải trả, kể cả các giả định về rủi ro. Vì thế, ý định nắm giữ tài sản hoặc thanh toán hay thực hiện nghĩa vụ nợ của đơn vịđơn vị sẽ không phù hợp khi xác định giá trị hợp lý.
4 Khái niệm giá trị hợp lý trong Chuẩn mực IFRS 13 tập trung vào tài sản và nợ phải trả vì đây là các đối tượng chính của việc ghi nhận kế toán. Ngoài ra, Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế này còn được áp dụng cho cả các công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị được ghi nhận theo giá trị hợp lý.
Phạm vi
5 Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 13 được áp dụng trong trường hợp một Chuẩn mực khác yêu cầu hoặc cho phép việc ghi nhận hoặc trình bày báo cáo tài chính theo giá trị hợp lý (và ghi nhận hoặc trình bày dựa trên giá trị hợp lý, ví dụ ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán), ngoại trừ các quy định tại các đoạn 6 và 7 dưới đây.
6 Yêu cầu về xác định và trình bày giá trị hợp lý tại Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 13 này không áp dụng cho các trường hợp sau:
3 Trường hợp không thể quan sát được mức giá của tài sản hoặc nợ phải trả trên thị trường, đơn vị xác định giá trị hợp lý của tài sản hoặc khoản nợ phải trả bằng các kỹ thuật định giá sử dụng tối đa các đầu vào quan sát được và tối thiểu các đầu vào không quan sát được trên thị trường. Do được xác định dựa vào các thông tin thu thập được trên thị trường, các kỹ thuật định giá phải bao gồm các giả định mà các bên tham gia thị trường sẽ sử dụng khi định giá tài sản hoặc nợ phải trả, kể cả các giả định về rủi ro. Vì thế, ý định nắm giữ tài sản hoặc thanh toán hay thực hiện nghĩa vụ nợ của đơn vịđơn vị sẽ không phù hợp khi xác định giá trị hợp lý.
4 Khái niệm giá trị hợp lý trong Chuẩn mực IFRS 13 tập trung vào tài sản và nợ phải trả vì đây là các đối tượng chính của việc ghi nhận kế toán. Ngoài ra, Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế này còn được áp dụng cho cả các công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị được ghi nhận theo giá trị hợp lý.
Phạm vi
5 Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 13 được áp dụng trong trường hợp một Chuẩn mực khác yêu cầu hoặc cho phép việc ghi nhận hoặc trình bày báo cáo tài chính theo giá trị hợp lý (và ghi nhận hoặc trình bày dựa trên giá trị hợp lý, ví dụ ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán), ngoại trừ các quy định tại các đoạn 6 và 7 dưới đây.
6 Yêu cầu về xác định và trình bày giá trị hợp lý tại Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 13 này không áp dụng cho các trường hợp sau:
- các giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu trong phạm vi điều chỉnh của IFRS 2 Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu;
- các giao dịch cho thuê trong phạm vi điều chỉnh của IFRS 16 Thuê tài sản; và
- việc đo lường các giá trị tương tự giá trị hợp lý nhưng không phải là giá trị hợp lý, ví dụ xác định giá trị thuần có thể thực hiện được quy định tại IAS 2 Hàng tồn kho hoặc giá trị sử dụng quy định tại IAS 36 Tổn thất tài sản.
7 Việc trình bày và thuyết minh theo yêu cầu của Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 13 này là không bắt buộc đối với những trường hợp sau đây:
- các tài sản được ghi nhận theo giá trị hợp lý theo quy định tại IAS 19 Phúc lợi của người lao động;
- các khoản đầu tư quỹ phúc lợi hưu trí được xác định theo giá trị hợp lý theo quy định tại IAS 26 Kế toán và Báo cáo Quỹ Phúc lợi hưu trí; và
- các tài sản được ghi nhận theo giá trị có thể thu hồi là giá trị hợp lý trừ chi phí thanh lý, theo quy định tại IAS 36.
8 Khuôn khổ về xác định giá trị hợp lý được mô tả trong Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế này được áp dụng cho cả việc xác định giá trị hợp lý tại thời điểm ghi nhận ban đầu và ghi nhận về sau nếu các Chuẩn mực khác yêu cầu hoặc cho phép.
Xác định giá trị
Định nghĩa giá trị hợp lý
9 Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế này định nghĩa giá trị hợp lý là giá trị có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc giá chuyển nhượng một khoản nợ phải trả trong một giao dịch tự nguyện có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường tại ngày xác định giá trị.
10 Đoạn B2 miêu tả phương pháp chung về xác định giá trị hợp lý.
Tài sản hoặc nợ phải trả
11 Việc xác định giá trị hợp lý được áp dụng cho một tài sản hoặc một khoản nợ phải trả cụ thể. Do đó, khi xác định giá trị hợp lý, đơn vị cần cân nhắc các đặc tính của tài sản hoặc khoản nợ phải trả nếu các đặc tính này được các bên tham gia thị trường xem xét đến khi xác định giá trị tài sản hoặc khoản nợ phải trả tại ngày xác định giá trị. Một số ví dụ về các đặc tính này như sau:
Xác định giá trị
Định nghĩa giá trị hợp lý
9 Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế này định nghĩa giá trị hợp lý là giá trị có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc giá chuyển nhượng một khoản nợ phải trả trong một giao dịch tự nguyện có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường tại ngày xác định giá trị.
10 Đoạn B2 miêu tả phương pháp chung về xác định giá trị hợp lý.
Tài sản hoặc nợ phải trả
11 Việc xác định giá trị hợp lý được áp dụng cho một tài sản hoặc một khoản nợ phải trả cụ thể. Do đó, khi xác định giá trị hợp lý, đơn vị cần cân nhắc các đặc tính của tài sản hoặc khoản nợ phải trả nếu các đặc tính này được các bên tham gia thị trường xem xét đến khi xác định giá trị tài sản hoặc khoản nợ phải trả tại ngày xác định giá trị. Một số ví dụ về các đặc tính này như sau:
- hiện trạng và vị trí của tài sản; và
- các hạn chế, nếu có, trong việc bán hoặc sử dụng tài sản.
12 Ảnh hưởng của từng đặc tính cụ thể tới việc xác định giá trị hợp lý sẽ khác nhau phụ thuộc vào việc các đặc tính đó sẽ được các bên tham gia thị trường xem xét như thế nào khi xác định giá trị tài sản hoặc nợ phải trả.
13 Các tài sản hoặc nợ phải trả được xác định giá trị hợp lý có thể là:
13 Các tài sản hoặc nợ phải trả được xác định giá trị hợp lý có thể là:
- một tài sản hoặc một khoản nợ phải trả riêng lẻ (ví dụ một công cụ tài chính hoặc một tài sản phi tài chính); hoặc
- một nhóm tài sản, một nhóm nợ phải trả hoặc một nhóm tài sản và nợ phải trả (ví dụ một đơn vị tạo tiền hoặc một hoạt động kinh doanh).
14 Một tài sản hoặc một khoản nợ phải trả được xác định là một tài sản hoặc một khoản nợ phải trả riêng lẻ hay một nhóm tài sản, một nhóm nợ phải trả hoặc một nhóm tài sản và nợ phải trả cho mục đích ghi nhận và thuyết minh trên báo cáo tài chính phụ thuộc vào đơn vị áp dụng kế toán. Đơn vị áp dụng kế toán của tài sản hoặc nợ phải trả được xác định theo quy định tại các Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế yêu cầu hoặc cho phép ghi nhận theo giá trị hợp lý, ngoại trừ các trường hợp được quy định cụ thể trong Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế này.
Giao dịch
15 Giá trị hợp lý được xác định dựa trên giả định tài sản hoặc nợ phải trả được trao đổi trong một giao dịch tự nguyện có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường để bán tài sản hoặc chuyển nhượng nợ phải trả vào ngày xác định giá trị trong điều kiện thị trường hiện tại.
16 Giá trị hợp lý được xác định dựa trên giả định giao dịch bán tài sản hoặc chuyển nhượng nợ phải trả diễn ra trên:
Giao dịch
15 Giá trị hợp lý được xác định dựa trên giả định tài sản hoặc nợ phải trả được trao đổi trong một giao dịch tự nguyện có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường để bán tài sản hoặc chuyển nhượng nợ phải trả vào ngày xác định giá trị trong điều kiện thị trường hiện tại.
16 Giá trị hợp lý được xác định dựa trên giả định giao dịch bán tài sản hoặc chuyển nhượng nợ phải trả diễn ra trên:
- thị trường chính yếu đối với tài sản hoặc khoản nợ phải trả đó, hoặc:
- thị trường thuận lợi nhất cho tài sản và nợ phải trả đó, trong trường hợp không có thị trường chính yếu.
17 Đơn vị không nhất thiết phải tiến hành tìm kiếm tất cả các thị trường có thể giao dịch tài sản hoặc nợ phải trả cần xác định giá trị để xác định thị trường chính yếu hoặc thị trường thuận lợi nhất trong trường hợp không có thị trường chính yếu, nhưng phải cân nhắc đến tất cả các thông tin thị trường có sẵn. Trong trường hợp không có bằng chứng ngược lại, thị trường mà đơn vị thường xuyên tiến hành giao dịch bán tài sản hoặc chuyển giao nợ phải trả được coi là thị trường chính yếu, hoặc là thị trường thuận lợi nhất trong trường hợp không có thị trường chính yếu.
18 Nếu tài sản hoặc nợ phải trả có thị trường chính yếu để giao dịch, việc xác định giá trị hợp lý phải phản ánh giá trị tài sản, nợ phải trả tại thị trường đó (cho dù đó là giá quan sát được trực tiếp hay là giá ước tính dựa trên các kỹ thuật định giá khác) ngay cả khi giá trị của tài sản hoặc nợ phải trả đó tại một thị trường khác tại ngày xác định giá trị có thể thuận lợi hơn .
19 Đơn vị phải có quyền tham gia vào thị trường chính yếu (hoặc thị trường thuận lợi nhất) vào ngày xác định giá trị. Bởi vì các đơn vị khác nhau (hay các đơn vị kinh doanh khác nhau trong cùng một đơn vị) với các hoạt động khác nhau có thể tiếp cận các loại thị trường khác nhau, thị trường chính yếu (hoặc thị trường thuận lợi nhất) cho cùng một tài sản hoặc nợ phải trả có thể sẽ khác nhau với các đơn vị khác nhau (hay với các hoạt động kinh doanh khác nhau trong cùng một đơn vị). Do đó, thị trường chính yếu (hoặc thị trường thuận lợi nhất) và các bên tham gia thị trường sẽ được cân nhắc theo quan điểm đánh giá của từng đơn vị, và vì thế, tạo ra sự khác biệt giữa hai hay nhiều đơn vị có các hoạt động kinh doanh khác nhau.
20 Việc đơn vị phải có khả năng tham gia vào thị trường không có nghĩa là đơn vị bắt buộc phải bán một tài sản hay chuyển nhượng một khoản nợ cụ thể tại ngày xác định giá trị để có thể xác định giá trị hợp lý trên cơ sở giá tại thị trường đó.
21 Ngay cả khi không có thông tin quan sát được trên thị trường về giá trị của tài sản hoặc nợ phải trả vào ngày xác định giá trị, giá trị hợp lý sẽ được xác định dựa trên giả định rằng một giao dịch được thực hiện vào ngày này, có cân nhắc đến quan điểm đánh giá của bên tham gia thị trường đang nắm giữ tài sản hoặc nợ phải trả. Giao dịch giả định này là cơ sở để ước tính giá bán tài sản hay giá chuyển nhượng khoản nợ phải trả đó.
18 Nếu tài sản hoặc nợ phải trả có thị trường chính yếu để giao dịch, việc xác định giá trị hợp lý phải phản ánh giá trị tài sản, nợ phải trả tại thị trường đó (cho dù đó là giá quan sát được trực tiếp hay là giá ước tính dựa trên các kỹ thuật định giá khác) ngay cả khi giá trị của tài sản hoặc nợ phải trả đó tại một thị trường khác tại ngày xác định giá trị có thể thuận lợi hơn .
19 Đơn vị phải có quyền tham gia vào thị trường chính yếu (hoặc thị trường thuận lợi nhất) vào ngày xác định giá trị. Bởi vì các đơn vị khác nhau (hay các đơn vị kinh doanh khác nhau trong cùng một đơn vị) với các hoạt động khác nhau có thể tiếp cận các loại thị trường khác nhau, thị trường chính yếu (hoặc thị trường thuận lợi nhất) cho cùng một tài sản hoặc nợ phải trả có thể sẽ khác nhau với các đơn vị khác nhau (hay với các hoạt động kinh doanh khác nhau trong cùng một đơn vị). Do đó, thị trường chính yếu (hoặc thị trường thuận lợi nhất) và các bên tham gia thị trường sẽ được cân nhắc theo quan điểm đánh giá của từng đơn vị, và vì thế, tạo ra sự khác biệt giữa hai hay nhiều đơn vị có các hoạt động kinh doanh khác nhau.
20 Việc đơn vị phải có khả năng tham gia vào thị trường không có nghĩa là đơn vị bắt buộc phải bán một tài sản hay chuyển nhượng một khoản nợ cụ thể tại ngày xác định giá trị để có thể xác định giá trị hợp lý trên cơ sở giá tại thị trường đó.
21 Ngay cả khi không có thông tin quan sát được trên thị trường về giá trị của tài sản hoặc nợ phải trả vào ngày xác định giá trị, giá trị hợp lý sẽ được xác định dựa trên giả định rằng một giao dịch được thực hiện vào ngày này, có cân nhắc đến quan điểm đánh giá của bên tham gia thị trường đang nắm giữ tài sản hoặc nợ phải trả. Giao dịch giả định này là cơ sở để ước tính giá bán tài sản hay giá chuyển nhượng khoản nợ phải trả đó.
Bài viết liên quan
Bài viết mới