- Bài viết
- 479
- Được Like
- 0
Tài sản thế chấp (đoạn 35K)
B8F
Đoạn 35K yêu cầu thuyết minh thông tin cho phép người sử dụng báo cáo tài chính hiểu ảnh hưởng của tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác đối với giá trị của tổn thất tín dụng dự kiến. Đơn vị không phải thuyết minh thông tin về giá trị hợp lý của tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác và không phải định lượng giá trị chính xác của tài sản thế chấp đã được bao gồm trong tính toán tổn thất tín dụng dự kiến (nghĩa là lỗ trong trường hợp mất khả năng thanh khoản).
B8G
Diễn giải về tài sản thế chấp và ảnh hưởng của chúng đối với các giá trị của tổn thất tín dụng dự kiến có thể bao gồm các thông tin về:
a) các loại tài sản thế chấp chính được giữ như hình thức đảm bảo và các phương thức đảm bảo tín dụng khác (ví dụ của các phương thức đảm bảo tín dụng khác bao gồm bảo lãnh, công cụ phái sinh tín dụng và những thỏa thuận bù trừ mà không đủ điều kiện để bù trừ theo IAS 32);
b) khối lượng tài sản thế chấp được nắm giữ và các phương thức đảm bảo tín dụng khác và tầm quan trọng của chúng đối với dự phòng tổn thất tài sản;
c) các chính sách và quy trình cho việc đánh giá và quản lý tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác;
d) các nhóm đối tác chính của tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác và mức độ uy tín của chúng; và
e) thông tin về mức độ tập trung rủi ro trong tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác.
Mức độ rủi ro tín dụng (đoạn 35M-35N)
B8H
Đoạn 35M yêu cầu thuyết minh thông tin về mức độ rủi ro tín dụng của đơn vị và những tập trung rủi ro tín dụng đáng kể tại ngày báo cáo. Sự tập trung rủi ro tín dụng tồn tại khi một số các đối tác nằm trong một khu vực địa lý hoặc tham gia vào các hoạt động tương tự và có những đặc điểm kinh tế tương tự dẫn đến khả năng của họ trong việc đáp ứng các nghĩa vụ theo hợp đồng bị ảnh hưởng tương tự bởi các điều kiện kinh tế hoặc các điều kiện khác. Đơn vị phải cung cấp thông tin cho phép người sử dụng báo cáo tài chính hiểu liệu có các nhóm hoặc các danh mục công cụ tài chính với các đặc điểm cụ thể có thể ảnh hưởng đến một phần lớn của nhóm công cụ tài chính đó ví dụ như là sự tập trung vào các rủi ro cụ thể nào đó. Điều này có thể bao gồm, ví dụ, các nhóm cho vay dựa trên giá trị, mức độ tập trung theo địa lý, theo ngành hoặc theo loại đơn vị phát hành.
B8I
Số lượng hạng rủi ro tín dụng được sử dụng để thuyết minh thông tin theo đoạn 35M phải nhất quán với số lượng mà đơn vị báo cáo cho các nhân sự quản lý chủ chốt cho mục đích quản trị rủi ro tín dụng. Nếu thông tin về quá hạn là thông tin cụ thể duy nhất mà bên đi vay có sẵn và đơn vị sử dụng thông tin về quá hạn để đánh giá liệu rủi ro tín dụng đã gia tăng đáng kể kể từ thời điểm ghi nhận ban đầu hay không theo đoạn 5.5.11 của IFRS 9, đơn vị phải cung cấp phân tích về tình trạng quá hạn của những tài sản tài chính này.
B8J
Khi đơn vị xác định giá trị tổn thất tín dụng dự kiến trên cơ sở nhóm, đơn vị có thể không phân bổ được giá trị ghi sổ gộp của từng tài sản tài chính hoặc mức độ rủi ro tín dụng đối với các cam kết cho vay và các hợp đồng bảo lãnh tài chính cho các hạng rủi ro tín dụng mà tổn thất tín dụng dự kiến trong suốt thời hạn được ghi nhận. Trong trường hợp đó, đơn vị phải áp dụng yêu cầu trong đoạn 35M cho các công cụ tài chính có thể được phân bổ trực tiếp cho một hạng rủi ro tín dụng và thuyết minh riêng biệt giá trị ghi sổ gộp của các công cụ tài chính mà tổn thất tín dụng dự kiến trong suốt thời hạn được xác định giá trị trên cơ sở nhóm.
Mức độ rủi ro tín dụng tối đa (đoạn 36(a))
B9
Các đoạn 35K(a) và 36(a) yêu cầu thuyết minh giá trị thể hiện tốt nhất mức độ rủi ro tín dụng tối đa của đơn vị. Đối với một tài sản tài chính, giá trị này thường là giá trị ghi sổ gộp, sau khi trừ:
a) bất kỳ giá trị nào được bù trừ nào theo IAS 32; và
b) bất kỳ dự phòng tổn thất nào được ghi nhận theo IFRS 9.
B10
Các hoạt động làm phát sinh rủi ro tín dụng và mức độ rủi ro tín dụng tối đa bao gồm, nhưng không giới hạn ở:
a) việc cấp vốn vay cho khách hàng và gửi tiền tại các đơn vị khác. Trong những trường hợp này, mức độ rủi ro tín dụng tối đa là giá trị ghi sổ của các tài sản tài chính liên quan.
b) tham gia vào các hợp đồng phái sinh, ví dụ hợp đồng ngoại hối, giao dịch hoán đổi lãi suất và các công cụ phái sinh tín dụng. Khi tài sản phát sinh được ghi nhận theo giá trị hợp lý, mức độ rủi ro tín dụng tối đa vào cuối kỳ báo cáo sẽ bằng giá trị ghi sổ.
c) cung cấp bảo lãnh tài chính. Trong trường hợp này, mức độ rủi ro tín dụng tối đa là giá trị tối đa mà đơn vị có thể phải trả khoản bảo lãnh bảo lãnh được yêu cầu, và giá trị này có thể lớn hơn đáng kể so với giá trị đã được ghi nhận là nợ phải trả.
d) đưa ra một cam kết cho vay không hủy ngang trong thời hạn của khoản vay hoặc chỉ có thể hủy ngang trong trường hợp có một thay đổi bất lợi trọng yếu. Nếu bên phát hành không thể thực hiện cam kết cho vay thuần bằng mặt hoặc bằng công cụ tài chính khác, rủi ro tín dụng tối đa là toàn bộ giá trị cam kết. Lý do là không thể chắc chắn liệu giá trị chưa giải ngân có thể giải ngân trong tương lai hay không. Giá trị này có thể lớn hơn đáng kể so với giá trị đã được ghi nhận là nợ phải trả.
B8F
Đoạn 35K yêu cầu thuyết minh thông tin cho phép người sử dụng báo cáo tài chính hiểu ảnh hưởng của tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác đối với giá trị của tổn thất tín dụng dự kiến. Đơn vị không phải thuyết minh thông tin về giá trị hợp lý của tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác và không phải định lượng giá trị chính xác của tài sản thế chấp đã được bao gồm trong tính toán tổn thất tín dụng dự kiến (nghĩa là lỗ trong trường hợp mất khả năng thanh khoản).
B8G
Diễn giải về tài sản thế chấp và ảnh hưởng của chúng đối với các giá trị của tổn thất tín dụng dự kiến có thể bao gồm các thông tin về:
a) các loại tài sản thế chấp chính được giữ như hình thức đảm bảo và các phương thức đảm bảo tín dụng khác (ví dụ của các phương thức đảm bảo tín dụng khác bao gồm bảo lãnh, công cụ phái sinh tín dụng và những thỏa thuận bù trừ mà không đủ điều kiện để bù trừ theo IAS 32);
b) khối lượng tài sản thế chấp được nắm giữ và các phương thức đảm bảo tín dụng khác và tầm quan trọng của chúng đối với dự phòng tổn thất tài sản;
c) các chính sách và quy trình cho việc đánh giá và quản lý tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác;
d) các nhóm đối tác chính của tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác và mức độ uy tín của chúng; và
e) thông tin về mức độ tập trung rủi ro trong tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác.
Mức độ rủi ro tín dụng (đoạn 35M-35N)
B8H
Đoạn 35M yêu cầu thuyết minh thông tin về mức độ rủi ro tín dụng của đơn vị và những tập trung rủi ro tín dụng đáng kể tại ngày báo cáo. Sự tập trung rủi ro tín dụng tồn tại khi một số các đối tác nằm trong một khu vực địa lý hoặc tham gia vào các hoạt động tương tự và có những đặc điểm kinh tế tương tự dẫn đến khả năng của họ trong việc đáp ứng các nghĩa vụ theo hợp đồng bị ảnh hưởng tương tự bởi các điều kiện kinh tế hoặc các điều kiện khác. Đơn vị phải cung cấp thông tin cho phép người sử dụng báo cáo tài chính hiểu liệu có các nhóm hoặc các danh mục công cụ tài chính với các đặc điểm cụ thể có thể ảnh hưởng đến một phần lớn của nhóm công cụ tài chính đó ví dụ như là sự tập trung vào các rủi ro cụ thể nào đó. Điều này có thể bao gồm, ví dụ, các nhóm cho vay dựa trên giá trị, mức độ tập trung theo địa lý, theo ngành hoặc theo loại đơn vị phát hành.
B8I
Số lượng hạng rủi ro tín dụng được sử dụng để thuyết minh thông tin theo đoạn 35M phải nhất quán với số lượng mà đơn vị báo cáo cho các nhân sự quản lý chủ chốt cho mục đích quản trị rủi ro tín dụng. Nếu thông tin về quá hạn là thông tin cụ thể duy nhất mà bên đi vay có sẵn và đơn vị sử dụng thông tin về quá hạn để đánh giá liệu rủi ro tín dụng đã gia tăng đáng kể kể từ thời điểm ghi nhận ban đầu hay không theo đoạn 5.5.11 của IFRS 9, đơn vị phải cung cấp phân tích về tình trạng quá hạn của những tài sản tài chính này.
B8J
Khi đơn vị xác định giá trị tổn thất tín dụng dự kiến trên cơ sở nhóm, đơn vị có thể không phân bổ được giá trị ghi sổ gộp của từng tài sản tài chính hoặc mức độ rủi ro tín dụng đối với các cam kết cho vay và các hợp đồng bảo lãnh tài chính cho các hạng rủi ro tín dụng mà tổn thất tín dụng dự kiến trong suốt thời hạn được ghi nhận. Trong trường hợp đó, đơn vị phải áp dụng yêu cầu trong đoạn 35M cho các công cụ tài chính có thể được phân bổ trực tiếp cho một hạng rủi ro tín dụng và thuyết minh riêng biệt giá trị ghi sổ gộp của các công cụ tài chính mà tổn thất tín dụng dự kiến trong suốt thời hạn được xác định giá trị trên cơ sở nhóm.
Mức độ rủi ro tín dụng tối đa (đoạn 36(a))
B9
Các đoạn 35K(a) và 36(a) yêu cầu thuyết minh giá trị thể hiện tốt nhất mức độ rủi ro tín dụng tối đa của đơn vị. Đối với một tài sản tài chính, giá trị này thường là giá trị ghi sổ gộp, sau khi trừ:
a) bất kỳ giá trị nào được bù trừ nào theo IAS 32; và
b) bất kỳ dự phòng tổn thất nào được ghi nhận theo IFRS 9.
B10
Các hoạt động làm phát sinh rủi ro tín dụng và mức độ rủi ro tín dụng tối đa bao gồm, nhưng không giới hạn ở:
a) việc cấp vốn vay cho khách hàng và gửi tiền tại các đơn vị khác. Trong những trường hợp này, mức độ rủi ro tín dụng tối đa là giá trị ghi sổ của các tài sản tài chính liên quan.
b) tham gia vào các hợp đồng phái sinh, ví dụ hợp đồng ngoại hối, giao dịch hoán đổi lãi suất và các công cụ phái sinh tín dụng. Khi tài sản phát sinh được ghi nhận theo giá trị hợp lý, mức độ rủi ro tín dụng tối đa vào cuối kỳ báo cáo sẽ bằng giá trị ghi sổ.
c) cung cấp bảo lãnh tài chính. Trong trường hợp này, mức độ rủi ro tín dụng tối đa là giá trị tối đa mà đơn vị có thể phải trả khoản bảo lãnh bảo lãnh được yêu cầu, và giá trị này có thể lớn hơn đáng kể so với giá trị đã được ghi nhận là nợ phải trả.
d) đưa ra một cam kết cho vay không hủy ngang trong thời hạn của khoản vay hoặc chỉ có thể hủy ngang trong trường hợp có một thay đổi bất lợi trọng yếu. Nếu bên phát hành không thể thực hiện cam kết cho vay thuần bằng mặt hoặc bằng công cụ tài chính khác, rủi ro tín dụng tối đa là toàn bộ giá trị cam kết. Lý do là không thể chắc chắn liệu giá trị chưa giải ngân có thể giải ngân trong tương lai hay không. Giá trị này có thể lớn hơn đáng kể so với giá trị đã được ghi nhận là nợ phải trả.