Chia sẻ Chuẩn Mực Báo Cáo Tài Chính Quốc Tế IFRS 7 - Công Cụ Tài Chính: Thuyết Minh

Tài sản thế chấp (đoạn 35K)

B8F
Đoạn 35K yêu cầu thuyết minh thông tin cho phép người sử dụng báo cáo tài chính hiểu ảnh hưởng của tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác đối với giá trị của tổn thất tín dụng dự kiến. Đơn vị không phải thuyết minh thông tin về giá trị hợp lý của tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác và không phải định lượng giá trị chính xác của tài sản thế chấp đã được bao gồm trong tính toán tổn thất tín dụng dự kiến (nghĩa là lỗ trong trường hợp mất khả năng thanh khoản).

B8G
Diễn giải về tài sản thế chấp và ảnh hưởng của chúng đối với các giá trị của tổn thất tín dụng dự kiến có thể bao gồm các thông tin về:

a) các loại tài sản thế chấp chính được giữ như hình thức đảm bảo và các phương thức đảm bảo tín dụng khác (ví dụ của các phương thức đảm bảo tín dụng khác bao gồm bảo lãnh, công cụ phái sinh tín dụng và những thỏa thuận bù trừ mà không đủ điều kiện để bù trừ theo IAS 32);

b) khối lượng tài sản thế chấp được nắm giữ và các phương thức đảm bảo tín dụng khác và tầm quan trọng của chúng đối với dự phòng tổn thất tài sản;

c) các chính sách và quy trình cho việc đánh giá và quản lý tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác;

d) các nhóm đối tác chính của tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác và mức độ uy tín của chúng; và

e) thông tin về mức độ tập trung rủi ro trong tài sản thế chấp và các phương thức đảm bảo tín dụng khác.

Mức độ rủi ro tín dụng (đoạn 35M-35N)

B8H
Đoạn 35M yêu cầu thuyết minh thông tin về mức độ rủi ro tín dụng của đơn vị và những tập trung rủi ro tín dụng đáng kể tại ngày báo cáo. Sự tập trung rủi ro tín dụng tồn tại khi một số các đối tác nằm trong một khu vực địa lý hoặc tham gia vào các hoạt động tương tự và có những đặc điểm kinh tế tương tự dẫn đến khả năng của họ trong việc đáp ứng các nghĩa vụ theo hợp đồng bị ảnh hưởng tương tự bởi các điều kiện kinh tế hoặc các điều kiện khác. Đơn vị phải cung cấp thông tin cho phép người sử dụng báo cáo tài chính hiểu liệu có các nhóm hoặc các danh mục công cụ tài chính với các đặc điểm cụ thể có thể ảnh hưởng đến một phần lớn của nhóm công cụ tài chính đó ví dụ như là sự tập trung vào các rủi ro cụ thể nào đó. Điều này có thể bao gồm, ví dụ, các nhóm cho vay dựa trên giá trị, mức độ tập trung theo địa lý, theo ngành hoặc theo loại đơn vị phát hành.

B8I
Số lượng hạng rủi ro tín dụng được sử dụng để thuyết minh thông tin theo đoạn 35M phải nhất quán với số lượng mà đơn vị báo cáo cho các nhân sự quản lý chủ chốt cho mục đích quản trị rủi ro tín dụng. Nếu thông tin về quá hạn là thông tin cụ thể duy nhất mà bên đi vay có sẵn và đơn vị sử dụng thông tin về quá hạn để đánh giá liệu rủi ro tín dụng đã gia tăng đáng kể kể từ thời điểm ghi nhận ban đầu hay không theo đoạn 5.5.11 của IFRS 9, đơn vị phải cung cấp phân tích về tình trạng quá hạn của những tài sản tài chính này.

B8J
Khi đơn vị xác định giá trị tổn thất tín dụng dự kiến trên cơ sở nhóm, đơn vị có thể không phân bổ được giá trị ghi sổ gộp của từng tài sản tài chính hoặc mức độ rủi ro tín dụng đối với các cam kết cho vay và các hợp đồng bảo lãnh tài chính cho các hạng rủi ro tín dụng mà tổn thất tín dụng dự kiến trong suốt thời hạn được ghi nhận. Trong trường hợp đó, đơn vị phải áp dụng yêu cầu trong đoạn 35M cho các công cụ tài chính có thể được phân bổ trực tiếp cho một hạng rủi ro tín dụng và thuyết minh riêng biệt giá trị ghi sổ gộp của các công cụ tài chính mà tổn thất tín dụng dự kiến trong suốt thời hạn được xác định giá trị trên cơ sở nhóm.

Mức độ rủi ro tín dụng tối đa (đoạn 36(a))

B9
Các đoạn 35K(a) và 36(a) yêu cầu thuyết minh giá trị thể hiện tốt nhất mức độ rủi ro tín dụng tối đa của đơn vị. Đối với một tài sản tài chính, giá trị này thường là giá trị ghi sổ gộp, sau khi trừ:

a) bất kỳ giá trị nào được bù trừ nào theo IAS 32; và

b) bất kỳ dự phòng tổn thất nào được ghi nhận theo IFRS 9.

B10
Các hoạt động làm phát sinh rủi ro tín dụng và mức độ rủi ro tín dụng tối đa bao gồm, nhưng không giới hạn ở:

a) việc cấp vốn vay cho khách hàng và gửi tiền tại các đơn vị khác. Trong những trường hợp này, mức độ rủi ro tín dụng tối đa là giá trị ghi sổ của các tài sản tài chính liên quan.

b) tham gia vào các hợp đồng phái sinh, ví dụ hợp đồng ngoại hối, giao dịch hoán đổi lãi suất và các công cụ phái sinh tín dụng. Khi tài sản phát sinh được ghi nhận theo giá trị hợp lý, mức độ rủi ro tín dụng tối đa vào cuối kỳ báo cáo sẽ bằng giá trị ghi sổ.

c) cung cấp bảo lãnh tài chính. Trong trường hợp này, mức độ rủi ro tín dụng tối đa là giá trị tối đa mà đơn vị có thể phải trả khoản bảo lãnh bảo lãnh được yêu cầu, và giá trị này có thể lớn hơn đáng kể so với giá trị đã được ghi nhận là nợ phải trả.

d) đưa ra một cam kết cho vay không hủy ngang trong thời hạn của khoản vay hoặc chỉ có thể hủy ngang trong trường hợp có một thay đổi bất lợi trọng yếu. Nếu bên phát hành không thể thực hiện cam kết cho vay thuần bằng mặt hoặc bằng công cụ tài chính khác, rủi ro tín dụng tối đa là toàn bộ giá trị cam kết. Lý do là không thể chắc chắn liệu giá trị chưa giải ngân có thể giải ngân trong tương lai hay không. Giá trị này có thể lớn hơn đáng kể so với giá trị đã được ghi nhận là nợ phải trả.​
 
Thuyết minh định lượng rủi ro thanh khoản (các đoạn 34(a) và 39(a) và (b))

B10A
Theo đoạn 34(a), đơn vị thuyết minh dữ liệu định lượng tóm tắt về rủi ro thanh khoản trên cơ sở các thông tin cung cấp nội bộ cho các nhân sự quản lý chủ chốt. Đơn vị phải giải thích cách thức xác định dữ liệu. Nếu sự giảm sút của tiền (hoặc tài sản tài chính khác) trong những dữ liệu này có thể:

a) xảy ra sớm hơn đáng kể so với được xác định trong dữ liệu, hoặc

b) có các giá trị khác biệt đáng kể so với xác định trong dữ liệu (ví dụ một công cụ phái sinh được bao gôm trong dữ liệu trên cơ sở thanh toán bù trừ thuần nhưng đối tác có quyền để yêu cầu thanh toán gộp),

đơn vị phải nêu rõ điều đó và cung cấp thông tin định lượng cho phép người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá phạm vi của rủi ro này, trừ khi thông tin đó được bao gồm trong các phân tích thời gian đáo hạn theo hợp đồng được yêu cầu tại đoạn 39 (a) hoặc (b).

B11
Khi lập các phân tích về thời gian đáo hạn được yêu cầu bởi đoạn 39(a) và (b), đơn vị sử dụng các xét đoán của mình để xác định các dải thời gian thích hợp. Ví dụ, đơn vị có thể xác định các khung thời gian sau là thích hợp:

a) không quá 1 tháng;

b) từ quá 1 tháng đến không quá 3 tháng;

c) từ quá 3 tháng đến không quá 1 năm;

d) từ quá 1 năm đến không quá 5 năm.

B11A
Để tuân thủ với đoạn 39(a) và (b), đơn vị không được tách riêng một công cụ phái sinh đính kèm từ một công cụ tài chính phức hợp (kết hợp). Đối với một công cụ như vậy, đơn vị phải áp dụng đoạn 39(a).

B11B
Đoạn 39(b) yêu cầu đơn vị thuyết minh phân tích định lượng thời gian đáo hạn của nợ phải trả tài chính phái sinh trong đó thể hiện thời gian đáo hạn còn lại theo hợp đồng nếu thời gian đáo hạn theo hợp đồng là quan trọng để hiểu về đặc tính thời gian của các dòng tiền. Ví dụ với các trường hợp của:

a) hoán đổi lãi suất với thời gian đáo hạn còn lại là 5 năm trong một nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro dòng tiền của một tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính có lãi suất thay đổi.

b) tất cả các cam kết cho vay.

B11C
Đoạn 39(a) và (b) yêu cầu đơn vị thuyết minh các phân tích thời gian đáo hạn của các khoản nợ phải trả tài chính thể hiện thời gian đáo hạn còn lại theo hợp đồng của một số khoản nợ phải trả tài chính. Trong thuyết minh này:

a) khi đối tác được lựa chọn thời điểm thanh toán, nợ phải trả sẽ được phân bổ cho kỳ sớm nhất khi mà đơn vị có thể bị yêu cầu thanh toán. Ví dụ, các khoản nợ phải trả tài chính mà đơn vị có thể bị yêu cầu phải hoàn trả bất kỳ lúc nào (ví dụ: tiền gửi không kỳ hạn) được bao gồm trong khung thời gian sớm nhất.

b) khi đơn vị phải cam kết thanh toán nhiều lần, mỗi lần sẽ được bao gồm cho kỳ sớm nhất mà đơn vị có thể bị yêu cầu thanh toán. Ví dụ, một cam kết cho vay chưa được giải ngân được bao gồm trong dải thời gian có ngày sớm nhất mà nó có thể được giải ngân.


c) đối với các hợp đồng bảo lãnh tài chính đã phát hành, giá trị tối đa của khoản bảo lãnh được phân bổ cho kỳ sớm nhất mà khoản bảo lãnh có thể được yêu cầu.

B11D
Các giá trị theo hợp đồng được thuyết minh trong phân tích thời gian đáo hạn theo yêu cầu tại đoạn 39(a) và (b) là dòng tiền chưa chiết khấu theo hợp đồng, ví dụ:

a) các khoản nợ đi thuê gộp (trước khi trừ các khoản chi phí tài chính);

b) giá quy định trong các hợp đồng kỳ hạn để mua tài sản tài chính bằng tiền;

c) giá trị thuần cho các hợp đồng hoán đổi trả lãi suất thả nổi/nhận lãi suất cố định trong đó dòng tiền thuần được trao đổi;

d) các giá trị theo hợp đồng được trao đổi trong một công cụ phái sinh (ví dụ một hợp đồng hoán đổi tiền tệ) mà dòng tiền gộp được trao đổi; và

e) các cam kết cho vay gộp.

Các dòng tiền chưa chiết khấu trên khác với giá trị được trình bày trong báo cáo tình hình tài chính vì giá trị trong báo cáo tình hình tài chính được dựa trên dòng tiền đã chiết khấu. Khi giá trị phải trả không cố định, giá trị phải thuyết minh được xác định bằng cách tham chiếu tới các điều kiện tồn tại vào cuối kỳ báo cáo. Ví dụ, khi giá trị phải trả thay đổi theo các biến động của một chỉ số, giá trị được thuyết minh có thể được dựa trên giá trị chỉ số vào cuối kỳ báo cáo.


B11E
Đoạn 39(c) yêu cầu đơn vị mô tả cách thức quản trị rủi ro thanh khoản tiềm tàng trong các khoản mục được thuyết minh trong các thuyết minh định lượng được yêu cầu trong đoạn 39(a) và (b). Đơn vị sẽ trình bày phân tích thời gian đáo hạn của các tài sản tài chính mà đơn vị nắm giữ để quản trị rủi ro thanh khoản (nghĩa là các tài sản tài chính sẵn sàng để bán hoặc được dự kiến sẽ tạo ra dòng tiền vào để đáp ứng các dòng tiền ra của nợ phải trả tài chính), nếu thông tin đó là cần thiết để cho phép người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá bản chất và phạm vi của rủi ro thanh khoản.

B11F
Các yếu tố khác mà đơn vị có thể xem xét trong việc trình bày thuyết minh được yêu cầu trong đoạn 39(c) bao gồm, nhưng không giới hạn ở việc, đơn vị có hay không:

a) có các cam kết đi vay (ví dụ các khoản tín dụng dựa trên giấy từ thương mại) hoặc các dạng tín dụng khác (ví dụ các khoản tín dụng dự phòng) mà đơn vị có thể tiếp cận để đáp ứng nhu cầu thanh khoản;

b) có tiền gửi tại các ngân hàng trung ương để đáp ứng nhu cầu thanh khoản;

c) có các nguồn tài trợ rất đa dạng;

d) có mức độ tập trung rủi ro thanh khoản đáng kể trong các tài sản hoặc các nguồn tài trợ của mình;

e) có các quy trình kiểm soát nội bộ và các kế hoạch dự phòng cho việc quản trị rủi ro thanh khoản;

f) có các công cụ tài chính bao gồm các điều khoản trả nợ nhanh (ví dụ khi đơn vị bị hạ mức xếp hạng tín dụng);

g) có các công cụ có thể yêu cầu đăng ký tài sản thế chấp (ví dụ: yêu cầu ký quỹ bổ sung cho các công cụ phái sinh);

h) có các công cụ cho phép đơn vị lựa chọn thanh toán các khoản nợ phải trả tài chính của mình bằng tiền (hoặc một tài sản tài chính khác) hoặc bằng cổ phiếu của chính đơn vị; hoặc

i) có các công cụ thuộc các thỏa thuận bù trừ tổng thể.

B12-B16 [Đã xóa].​
 
Rủi ro thị trường – phân tích độ nhạy (các đoạn 40 và 41)

B17
Đoạn 40(a) yêu cầu thuyết minh phân tích độ nhạy đối với từng loại rủi ro thị trường mà đơn vị gặp phải. Theo đoạn B3, đơn vị quyết định cách thức tập hợp thông tin để trình bày bức tranh tổng thể mà không cộng gộp các thông tin có các đặc điểm khác nhau về mức độ rủi ro từ các môi trường kinh tế có khác biệt đáng kể. Ví dụ:

a) đơn vị kinh doanh các công cụ tài chính có thể thuyết minh thông tin này một cách riêng biệt cho các công cụ tài chính được nắm giữ để kinh doanh và không để kinh doanh.

b) đơn vị không cộng gộp mức độ rủi ro thị trường từ các khu vực siêu lạm phát với cùng mức độ rủi ro thị trường tương tự từ các khu vực lạm phát rất thấp.

Nếu đơn vị chỉ gặp phải một loại rủi ro thị trường trong chỉ một môi trường kinh tế thì đơn vị không cần trình bày thông tin riêng biệt.

B18
Đoạn 40(a) yêu cầu thuyết minh phân tích độ nhạy để thể hiện các ảnh hưởng đến lãi hoặc lỗ và vốn chủ sở hữu của những thay đổi có thể xảy ra trong biến số rủi ro liên quan (ví dụ lãi suất hiện hành trên thị trường, tỷ giá tiền tệ, giá cổ phiếu hoặc giá cả hàng hóa). Cho mục đích này:

a) đơn vị không phải xác định lãi hoặc lỗ trong kỳ là bao nhiêu nếu các biến số rủi ro liên quan thay đổi. Thay vào đó, đơn vị thuyết minh ảnh hưởng đến lãi hoặc lỗ và vốn chủ sở hữu vào cuối kỳ báo cáo, với giả định một thay đổi trong một biến số rủi ro có thể xảy ra thực sự xảy ra vào cuối kỳ báo cáo và đã được áp dụng cho các rủi ro tồn tại tại ngày đó. Ví dụ, nếu đơn vị có nợ phải trả với lãi suất thả nổi vào cuối năm, đơn vị phải thuyết minh các ảnh hưởng đến lãi hoặc lỗ (nghĩa là chi phí lãi vay) cho năm hiện tại nếu lãi suất đã thay đổi theo giá trị hợp lý có thể xác định được.

b) đơn vị không phải thuyết minh ảnh hưởng đến lãi hoặc lỗ và vốn chủ sở hữu cho mỗi thay đổi trong phạm vi của những thay đổi hợp lý có thể của biến số rủi ro liên quan. Thuyết minh các ảnh hưởng của những thay đổi ở các giới hạn của phạm vi hợp lý có thể là đầy đủ.

B19
Khi xác định các thay đổi hợp lý có thể xảy ra đối với các biến số rủi ro liên quan, đơn vị phải xem xét:

a) các môi trường kinh tế mà đơn vị đang hoạt động. Một thay đổi hợp lý có thể không bao gồm các tình huống khó có khả năng xảy ra hoặc tình huống ‘trường hợp xấu nhất’ hoặc ‘các cuộc kiểm tra tính ổn định’. Hơn nữa, nếu tỷ lệ của sự thay đổi trong biến số rủi ro là ổn định, đơn vị không phải điều chỉnh thay đổi hợp lý có thể trong biến số rủi ro đã lựa chọn. Ví dụ, giả sử lãi suất là 5% và đơn vị xác định rằng biến động lãi suất ± 50 điểm cơ bản là hợp lý có thể. Đơn vị sẽ thuyết minh ảnh hưởng đến lãi hoặc lỗ và vốn chủ sở hữu nếu lãi suất thay đổi đến 4,5% hoặc 5,5%. Trong kỳ sau, lãi suất đã tăng lên đến 5,5%. Đơn vị vẫn đánh giá rằng lãi suất có thể biến động ± 50 điểm cơ bản (nghĩa là tỷ lệ thay đổi trong lãi suất là ổn định). Đơn vị sẽ thuyết minh ảnh hưởng đến lãi hoặc lỗ và vốn chủ sở hữu nếu lãi suất thay đổi đến 5% hoặc 6%. Đơn vị sẽ không phải xem xét lại đánh giá rằng lãi suất có thể biến động hợp lý ± 50 điểm cơ bản, trừ khi có bằng chứng cho thấy lãi suất đã biến động đáng kể hơn.

b) khung thời gian đơn vị thực hiện việc đánh giá. Phân tích độ nhạy phải thể hiện những ảnh hưởng của thay đổi được coi là hợp lý có thể trong kỳ cho đến khi đơn vị thuyết minh lần kế tiếp, thường là kỳ báo cáo năm sau.


B20
Đoạn 41 cho phép đơn vị sử dụng một phân tích độ nhạy để phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các biến số rủi ro, như phương pháp giá trị chịu rủi ro, nếu đơn vị sử dụng phân tích này để quản trị các rủi ro tài chính. Điều này áp dụng ngay cả khi phương pháp như vậy chỉ có thể xác định lỗ tiềm năng mà không xác định lãi tiềm năng. Như vậy, đơn vị có thể tuân thủ với đoạn 41(a) bằng cách thuyết minh các mô hình giá trị chịu rủi ro đã được sử dụng (ví dụ liệu mô hình có dựa trên các mô phỏng Monte Carlo hay không), giải thích cách thức hoạt động của mô hình và các giả định chính (ví dụ thời gian nắm giữ và mức độ tin cậy). Đơn vị cũng có thể thuyết minh giai đoạn quan sát lịch sử và các trọng số áp dụng cho các quan sát trong giai đoạn đó, giải thích cách thức quyền chọn được bao gồm trong tính toán như thế nào và các hệ số biến động và hệ số tương quan (hoặc mô phỏng phân phối xác suất Monte Carlo) nào được sử dụng.

B21
Đơn vị phải cung cấp phân tích độ nhạy cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình, nhưng có thể cung cấp các loại phân tích độ nhạy khác nhau cho các loại công cụ tài chính khác nhau.​
 
Rủi ro lãi suất

B22
Rủi ro lãi suất phát sinh từ các công cụ tài chính có lãi suất được ghi nhận trong báo cáo tình hình tài chính (ví dụ các công cụ nợ đã được mua hoặc phát hành) và từ một số công cụ tài chính không được ghi nhận trong báo cáo tình hình tài chính (ví dụ một số cam kết cho vay).

Rủi ro tiền tệ

B23
Rủi ro tiền tệ (hoặc rủi ro tỷ giá hối đoái) phát sinh từ các công cụ tài chính có gốc ngoại tệ, nghĩa là loại tiền tệ khác với đồng tiền chức năng mà chúng được xác định giá trị. Cho mục đích của IFRS này, rủi ro tiền tệ không phát sinh từ các công cụ tài chính là các khoản mục phi tiền tệ hoặc từ các công cụ tài chính có gốc là đồng tiền chức năng.

B24
Phân tích độ nhạy được thuyết minh cho từng loại tiền tệ mà đơn vị có rủi ro đáng kể.

Rủi ro khác về giá

B25
Rủi ro khác về giá phát sinh từ các công cụ tài chính do các thay đổi trong, ví dụ giá cả hàng hóa hoặc giá cổ phiếu. Để tuân thủ với đoạn 40, đơn vị có thể thuyết minh ảnh hưởng của việc suy giảm trong một chỉ số thị trường chứng khoán nhất định, giá cả hàng hóa, hoặc biến số rủi ro khác. Ví dụ, nếu đơn vị các công cụ tài chính là bảo lãnh giá trị còn lại, đơn vị thuyết minh việc tăng hoặc giảm giá trị của tài sản được bảo lãnh.


B26
Hai ví dụ về các công cụ tài chính làm phát sinh rủi ro về giá cổ phiếu là (a) nắm giữ vốn chủ sở hữu trong một đơn vị khác và (b) một khoản đầu tư vào quỹ tín thác mà quỹ này đầu tư vào các công cụ vốn. Các ví dụ khác bao gồm các hợp đồng kỳ hạn và quyền chọn để mua hoặc bán một số lượng nhất định công cụ vốn và giao dịch hoán đổi được dựa trên với giá cổ phiếu. Các giá trị hợp lý của các công cụ tài chính như vậy bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong giá thị trường của các công cụ vốn liên quan.

B27
Theo đoạn 40(a), độ nhạy của lãi hoặc lỗ (ví dụ, phát sinh từ các công cụ được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua báo cáo lãi hoặc lỗ) được thuyết minh riêng biệt với độ nhạy của thu nhập toàn diện khác (ví dụ, phát sinh từ đầu tư vào các công cụ vốn mà các thay đổi trong giá trị hợp lý được trình bày trong báo cáo thu nhập toàn diện khác).


B28
Các công cụ tài chính mà đơn vị phân loại là công cụ vốn không được xác định lại giá trị. Lãi hoặc lỗ hay vốn chủ sỡ hữu đều không bị ảnh hưởng bởi rủi ro giá cổ phiếu của những công cụ này. Theo đó, việc phân tích độ nhạy là không bắt buộc.

Dừng ghi nhận (đoạn 42C – 42H)

Tiếp tục có liên quan (đoạn 42C)


B29
Việc đánh giá sự tiếp tục có liên quan đến một tài sản tài chính đã được chuyển giao cho mục đích của các yêu cầu thuyết minh theo các đoạn 42E – 42H được thực hiện ở cấp độ của đơn vị báo cáo. Ví dụ, nếu một công ty con chuyển giao cho bên thứ ba không liên quan một tài sản tài chính mà công ty mẹ của công ty con đó tiếp tục có liên quan đến tài sản này, thì công ty con không phải tính đến sự liên quan của công ty mẹ trong việc đánh giá việc tiếp tục có liên quan đến tài sản được chuyển giao trong báo cáo tài chính riêng của mình (nghĩa là khi công ty con là đơn vị báo cáo). Tuy nhiên, công ty mẹ sẽ tính đến sự tiếp tục có liên quan của mình (hoặc của một thành viên khác của tập đoàn) tới một tài sản tài chính được chuyển giao bởi công ty con của mình trong việc xác định liệu rằng nó tiếp tục có liên quan đến các tài sản đã được chuyển giao trong báo cáo tài chính hợp nhất (nghĩa là khi đơn vị báo cáo là tập đoàn).

B30
Đơn vị không có sự tiếp tục có liên quan đến một tài sản tài chính đã được chuyển giao nếu, như là một phần của việc chuyển giao, đơn vị không giữ lại bất cứ các quyền hoặc nghĩa vụ hợp đồng vốn có nào trong tài sản tài chính đã được chuyển giao cũng không có thêm bất kỳ quyền hoặc nghĩa vụ hợp đồng mới liên quan đến tài sản tài chính đã được chuyển giao. Đơn vị không có sự tiếp tục có liên quan đến một tài sản tài chính đã được chuyển giao nếu đơn vị không có lợi ích nào trong hoạt động tương lai của tài sản tài chính đã được chuyển giao đó cũng như không phải chịu trách nhiệm dưới bất kỳ trường hợp nào phải thanh toán các khoản trong tương lai liên quan đến tài sản tài chính đã được chuyển giao đó. Thuật ngữ “thanh toán” trong ngữ cảnh này không bao gồm dòng tiền từ tài sản tài chính đã được chuyển giao mà đơn vị thu được và được yêu cầu hoàn trả lại cho bên nhận chuyển giao.

B30A
Khi một đơn vị chuyển giao một tài sản tài chính, đơn vị có thể giữ lại quyền đối cung cấp dịch vụ cho tài sản tài chính đó mà có tính phí, ví dụ một hợp đồng cung cấp dịch vụ. Đơn vị đánh giá hợp đồng cung cấp dịch vụ theo hướng dẫn trong các đoạn 42C và B30 để xác định liệu rằng đơn vị có sự tiếp tục có liên quan phát sinh từ hợp đồng cung cấp dịch vụ cho mục đích của các yêu cầu thuyết minh. Ví dụ, bên cung cấp dịch vụ sẽ tiếp tục có liên quan đến tài sản tài chính đã được chuyển giao cho mục đích của các yêu cầu thuyết minh nếu phí dịch vụ phụ thuộc vào giá trị hoặc thời điểm của dòng tiền thu được từ tài sản tài chính đã được chuyển giao. Tương tự, bên cung cấp dịch vụ tiếp tục có liên quan cho mục đích của các yêu cầu thuyết minh nếu phí cố định không được trả đầy đủ do việc không thực hiện được nghĩa vụ của tài sản tài chính. Trong các ví dụ này, bên cung cấp dịch vụ có lợi ích từ việc thực hiện trong tương lai của các tài sản tài chính đã được chuyển giao. Đánh giá này phụ thuộc vào việc liệu phí sẽ nhận được sẽ đền bù cho đơn vị một cách thỏa đáng cho việc thực hiện dịch vụ.


B31
Sự tiếp tục có liên quan đến tài sản tài chính đã chuyển giao có thể là kết quả của các quy định theo hợp đồng trong thỏa thuận chuyển giao hoặc trong một thỏa thuận riêng biệt với bên nhận chuyển giao hoặc một bên thứ ba có liên quan đến việc chuyển giao.​
 
Tài sản tài chính đã được chuyển giao nhưng không bị dừng ghi nhận toàn bộ (đoạn 42D)

B32
Đoạn 42D yêu cầu thuyết minh khi một phần hoặc toàn bộ của các tài sản tài chính đã được chuyển giao không đủ điều kiện để dừng ghi nhận. Những thuyết minh này là bắt buộc tại kỳ ngày báo cáo mà đơn vị tiếp tục ghi nhận các tài sản tài chính đã được chuyển giao, bất kể thời điểm việc chuyển giao xảy ra.

Các loại tiếp tục có liên quan (các đoạn 42E – 42H)

B33
Các đoạn 42E – 42H yêu cầu các thuyết minh định tính và định lượng cho từng loại tiếp tục có liên quan đến các tài sản tài chính đã được dừng ghi nhận. Đơn vị phải tổng hợp các sự tiếp tục có liên quan thành các loại đại diện cho các rủi ro của đơn vị. Ví dụ, đơn vị có thể tổng hợp các sự tiếp tục có liên quan của mình theo loại công cụ tài chính (ví dụ: bảo lãnh hoặc quyền chọn mua) hoặc theo loại chuyển giao (ví dụ: bao thanh toán các khoản phải thu, chứng khoán hóa và cho vay chứng khoán).

Phân tích thời gian đáo hạn cho các dòng tiền ra chưa chiết khấu để mua lại các tài sản đã được chuyển giao (đoạn 42E(e))

B34
Đoạn 42E(e) yêu cầu đơn vị thuyết minh phân tích thời gian đáo hạn của các dòng tiền ra chưa chiết khấu để mua lạ các tài sản tài chính đã được dừng ghi nhận hoặc các khoản phải trả khác cho bên nhận chuyển giao liên quan đến các tài sản tài chính đã được dừng ghi nhận, thể hiện thời gian đáo hạn theo hợp đồng còn lại của sự tiếp tục có liên quan của đơn vị. Phân tích này phân biệt các dòng tiền phải thanh toán (ví dụ các hợp đồng kỳ hạn) và các dòng tiền đơn vị có thể phải thanh toán (ví dụ quyền chọn bán đã bán) và dòng tiền mà đơn vị có thể chọn để thanh toán (ví dụ quyền chọn mua đã mua).

B35
Đơn vị phải sử dụng xét đoán của mình để xác định một số lượng thích hợp các dải thời gian trong việc lập phân tích thời gian đáo hạn theo yêu cầu của đoạn 42E(e). Ví dụ, đơn vị có thể quyết định theo các khung thời gian đáo hạn sau là thích hợp:

a) không quá 1 tháng;

b) từ trên 1 tháng đến không quá 3 tháng,

c) từ trên 3 tháng đến không quá 6 tháng,

d) từ trên 6 tháng đến không quá 1 năm;

e) từ trên 1 năm đến không quá 3 năm;

f) từ trên 3 năm đến không quá 5 năm; và

g) trên 5 năm.

B36
Nếu có một loạt kỳ hạn, dòng tiền được bao gồm trên cơ sở ngày sớm nhất mà đơn vị có thể bị yêu cầu hoặc được phép thanh toán.

Thông tin định tính (đoạn 42E(f))


B37
Thông tin định tính theo yêu cầu của đoạn 42E(f) bao gồm mô tả của các tài sản tài chính đã được dừng ghi nhận và bản chất và mục đích của sự tiếp tục có liên quan được giữ lại sau khi chuyển giao các tài sản này. Thông tin này cũng bao gồm mô tả về những rủi ro mà đơn vị gặp phải, bao gồm:

a) mô tả về cách thức đơn vị quản trị rủi ro tiềm tàng trong việc tiếp tục có liên quan của đơn vị đến các tài sản tài chính đã được dừng ghi nhận.

b) liệu đơn vị có bị yêu cầu phải chịu tổn thất trước các bên khác thứ tự và giá trị các khoản tổn thất do các bên gánh chịu mà các bên này có lợi ích xếp sau lợi ích của đơn vị trong tài sản đó (nghĩa là sự tiếp tục có liên quan đến tài sản).

c) mô tả các tác nhân gắn liền với nghĩa vụ cung cấp hỗ trợ tài chính hoặc mua lại một tài sản tài chính đã được chuyển giao.

Lãi hoặc lỗ từ việc dừng ghi nhận (đoạn 42G(a))

B38
Đoạn 42G(a) yêu cầu đơn vị thuyết minh lãi hoặc lỗ từ việc dừng ghi nhận liên quan đến các tài sản tài chính mà đơn vị tiếp tục có liên quan. Đơn vị phải thuyết minh nếu có lãi hoặc lỗ từ việc dừng ghi nhận phát sinh do giá trị hợp lý của các cấu phần của các tài sản được ghi nhận trước đây (nghĩa là lợi ích trong tài sản bị dừng ghi nhận và lợi ích được giữ lại bởi đơn vị) khác với giá trị hợp lý của toàn bộ tài sản đã ghi nhận trước đây. Trong trường hợp đó, đơn vị cũng phải thuyết minh liệu việc xác định giá trị hợp lý đã bao gồm các đầu vào quan trọng mà không được dựa trên các dữ liệu thị trường có thể quan sát được, như được mô tả tại đoạn 27A.​
 
Thông tin bổ sung (đoạn 42H)

B39
Các thuyết minh theo yêu cầu tại các đoạn 42D – 42G có thể không đủ để thỏa mãn các mục tiêu thuyết minh tại đoạn 42B. Nếu như vậy, đơn vị phải thuyết minh bất cứ thông tin bổ sung cần thiết nào để thỏa mãn các mục tiêu thuyết minh. Đơn vị phải quyết định, tùy theo hoàn cảnh của mình, mức độ thông tin bổ sung cần cung cấp để đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng báo cáo tài chính và mức độ nhấn mạnh đến các khía cạnh khác nhau của thông tin bổ sung. Đơn vị cần cân bằng giữa việc làm quá tải báo cáo tài chính với các thông tin quá chi tiết mà không hỗ trợ người sử dụng báo cáo tài chính và với việc che giấu các thông tin quan trọng do việc trình bày thông tin một cách tổng hợp quá mức.

Bù trừ các tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính (các đoạn 13A-13F)

Phạm vi (đoạn 13A)


B40
Các thuyết minh trong các đoạn 13B – 13E được yêu cầu cho tất cả các công cụ tài chính được ghi nhận mà được bù trừ theo đoạn 42 của IAS 32. Ngoài ra, các công cụ tài chính thuộc phạm vi các yêu cầu thuyết minh trong các đoạn 13B – 13E nếu chúng thuộc một thỏa thuận bù trừ có hiệu lực tổng thể hoặc thỏa thuận tương tự cho các công cụ tài chính và các giao dịch tương tự, không phân biệt liệu các công cụ tài chính được bù trừ theo đoạn 42 của IAS 32 hay không.

B41
Các thỏa thuận tương tự được đề cập trong các đoạn 13A và B40 bao gồm các thỏa thuận thanh toán bù trừ phái sinh, thỏa thuận mua lại tổng thể toàn cầu, thỏa thuận cho vay chứng khoán tổng thể toàn cầu, và các quyền liên quan đến tài sản thế chấp tài chính. Các công cụ tài chính và các giao dịch tương tự được đề cập trong đoạn B40 bao gồm các công cụ phái sinh, các thỏa thuận bán và mua lại, các thỏa thuận bán đảo ngược và mua lại, các thỏa thuận vay chứng khoán và cho vay chứng khoán. Ví dụ của các công cụ tài chính không thuộc phạm vi của đoạn 13A là các khoản cho vay và tiền gửi của khách hàng tại cùng một tổ chức (trừ khi chúng được bù trừ trong báo cáo tình hình tài chính) và các công cụ tài chính chỉ liên quan đến một thỏa thuận thế chấp tài sản.

Thuyết minh thông tin định lượng đối với các tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính đã được ghi nhận thuộc phạm vi của đoạn 13A (đoạn 13C)

B42
Các công cụ tài chính được thuyết minh theo đoạn 13C có thể chịu những yêu cầu về xác định giá trị khác nhau (ví dụ, một khoản phải trả có liên quan đến một thỏa thuận mua lại có thể được ghi nhận theo giá trị được phân bổ, trong khi một công cụ phái sinh sẽ được ghi nhận theo giá trị hợp lý). Đơn vị phải bao gồm các công cụ tại giá trị được ghi nhận và mô tả các khác biệt trong xác định giá trị trong các thuyết minh liên quan.

Thuyết minh giá trị gộp của các tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính được ghi nhận thuộc phạm vi của đoạn 13A (đoạn 13C(a))

B43
Các giá trị được yêu cầu bởi đoạn 13C(a) liên quan đến các công cụ tài chính đã được ghi nhận mà đã được bù trừ theo đoạn 42 của IAS 32. Các giá trị được yêu cầu bởi đoạn 13C(a) cũng liên quan đến các công cụ tài chính đã được ghi nhận mà các công cụ này là phụ thuộc vào một thỏa thuận bù trừ có hiệu lực tổng thể hoặc thỏa thuận tương tự, không phụ thuộc việc liệu chúng có thỏa mãn các tiêu chí bù trừ hay không. Tuy nhiên, các thuyết minh theo các yêu cầu của đoạn 13C(a) không liên quan đến bất kỳ giá trị nào được ghi nhận do các thỏa thuận thế chấp tài sản không đáp ứng các tiêu chí bù trừ trong đoạn 42 của IAS 32. Thay vào đó, các giá trị đó phải được thuyết minh theo đoạn 13C(d).

Thuyết minh các giá trị được bù trừ theo các tiêu chí tại đoạn 42 của IAS 32 (đoạn 13C(b))

B44
Đoạn 13C(b) yêu cầu đơn vị thuyết minh các giá trị được bù trừ theo đoạn 42 của IAS 32 khi xác định các giá trị thuần được trình bày trong báo cáo tình hình tài chính. Giá trị của các tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính đã được ghi nhận mà được bù trừ trong cùng một thỏa thuận phải được thuyết minh trong các phần thuyết minh của cả tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính. Tuy nhiên, các giá trị được thuyết minh (ví dụ một bảng) chỉ giới hạn ở các giá trị được bù trừ. Ví dụ, đơn vị có thể có một tài sản phái sinh và một khoản nợ phải trả phái sinh được ghi nhận đáp ứng các tiêu chí bù trừ tại đoạn 42 của IAS 32. Nếu giá trị gộp của tài sản phái sinh lớn hơn giá trị gộp của nợ phải trả phái sinh, bảng thuyết minh thông tin tài sản tài chính sẽ bao gồm toàn bộ giá trị của tài sản phái sinh (theo đoạn 13C(a)) và toàn bộ giá trị của nợ phải trả phái sinh (theo đoạn 13C(b)). Tuy nhiên, trong khi bảng thuyết minh thông tin nợ phải trả tài chính sẽ bao gồm toàn bộ giá trị nợ phải trả phái sinh (theo đoạn 13C(a)), bảng này sẽ chỉ bao gồm giá trị tài sản phái sinh (theo đoạn 13C(b)) bằng với giá trị của nợ phải trả phái sinh.​
 
Thuyết minh các giá trị thuần được trình bày trong báo cáo tình hình tài chính (đoạn 13C(c))

B45
Nếu đơn vị có các công cụ thỏa mãn phạm vi của những thuyết minh này (như được nêu trong đoạn 13A), nhưng không thỏa mãn các tiêu chí bù trừ trong đoạn 42 của IAS 32, các giá trị phải thuyết minh theo yêu cầu của tại đoạn 13C(c) sẽ bằng các giá trị phải thuyết minh theo yêu cầu của đoạn 13C(a).

B46
Các giá trị phải phải thuyết minh theo đoạn 13C(c) phải được đối chiếu với giá trị từng khoản mục riêng lẻ được trình bày trong báo cáo tình hình tài chính. Ví dụ, nếu đơn vị xác định rằng việc tổng hợp hoặc phân tách giá trị của các khoản mục riêng lẻ trên báo cáo tài chính cung cấp thông tin phù hợp hơn, đơn vị phải đối chiếu giá trị tổng hợp hoặc phân tác được thuyết minh hướng dẫn trong đoạn 13C(c) với từng giá trị của các khoản mục riêng lẻ được trình bày trong báo cáo tình hình tài chính.

Thuyết minh các giá trị thuộc một thỏa thuận bù trừ có hiệu lực tổng thể hoặc thỏa thuận tương tự không được bao gồm trong đoạn 13C(b) (đoạn 13C(d))

B47
Đoạn 13C(d) yêu cầu đơn vị thuyết minh các giá trị thuộc một thỏa thuận bù trừ có hiệu lực tổng thể hoặc thỏa thuận tương tự không được bao gồm trong đoạn 13C(b). Đoạn 13C(d)(i) đề cập đến các giá trị liên quan đến các công cụ tài chính đã được ghi nhận mà không thỏa mãn một số hoặc tất cả các tiêu chí bù trừ trong đoạn 42 của IAS 32 (ví dụ, quyền bù trừ hiện tại không thỏa mãn các tiêu chí trong đoạn 42(b) của IAS 32, hoặc các quyền bù trừ có điều kiện chỉ có hiệu lực và có thể thực hiện được trong sự kiện mất khả năng thanh toán, hoặc chỉ trong trường hợp mất khả năng thanh toán hoặc phá sản củ bất kỳ đối tác nào).

B48
Đoạn 13C(d)(ii) đề cập đến các giá trị liên quan đến tài sản thế chấp tài chính, bao gồm thế chấp bằng tiền, đã nhận được hoặc đem đi thế chấp. Đơn vị phải thuyết minh giá trị hợp lý của các công cụ tài chính đã đem đi thế chấp hoặc đã nhận được làm tài sản thế chấp. Các giá trị được thuyết minh theo đoạn 13C(d)(ii) phải liên quan đến tài sản thế chấp thực tế nhận được hoặc đem đi thế chấp và không liên quan đến các khoản phải trả hoặc phải thu phát sinh được ghi nhân để trả lại hoặc nhận lại tài sản thế chấp.

Giới hạn về các giá trị được thuyết minh trong đoạn 13C(d) (đoạn 13D)

B49
Khi thuyết minh các giá trị theo đoạn 13C(d), đơn vị phải tính đến các ảnh hưởng của việc thế chấp quá mức của công cụ tài chính. Để làm như vậy, đầu tiên đơn vị phải trừ các giá trị được thuyết minh theo đoạn 13C(d)(i) khỏi các giá trị được thuyết minh theo đoạn 13C(c). Đơn vị sau đó phải giới hạn các giá trị được thuyết minh theo đoạn 13C(d)(ii) bằng giá trị còn lại theo đoạn 13C(c) cho công cụ tài chính liên quan. Tuy nhiên, nếu các quyền đối với tài sản thế chấp hiệu lực xuyên suốt các công cụ tài chính, các quyền đó có thể được bao gồm trong thuyết minh được cung cấp theo đoạn 13D.

Mô tả các quyền bù trừ thuộc một thỏa thuận bù trừ có hiệu lực tổng thế hoặc thỏa thuận tương tự (đoạn 13E)

B50
Đơn vị phải mô tả các loại quyền bù trừ và các thỏa thuận tương tự được thuyết minh theo đoạn 13C(d), bao gồm bản chất của các quyền đó. Ví dụ, đơn vị phải mô tả các quyền có điều kiện ràng buộc của mình. Đối với các công cụ tài chính thuộc quyền bù trừ không phụ thuộc vào một sự kiện tương lai, nhưng không thỏa mãn các tiêu chí còn lại trong đoạn 42 của IAS 32, đơn vị phải mô tả lý do các tiêu chí đó không được thỏa mãn. Đối với thế chấp tài chính đã nhận hoặc mang đi thế chấp, đơn vị phải mô tả các điều khoản của thỏa thuận thế chấp tài sản (ví dụ, khi tài sản thế chấp bị hạn chế).

Thuyết minh theo loại công cụ tài chính hoặc theo đối tác

B51
Các thuyết minh định lượng theo yêu cầu của đoạn 13C(a) - (e) có thể được nhóm theo loại công cụ tài chính hoặc loại giao dịch (ví dụ, các công cụ phái sinh, các thỏa thuận mua lại và mua lại đảo ngược hoặc các thỏa thuận đi vay và cho vay chứng khoán).

B52
Theo cách khác, đơn vị có thể nhóm các thuyết minh định lượng theo yêu cầu của đoạn 13C(a) - (c) theo loại công cụ tài chính và các thuyết minh định lượng theo yêu cầu của đoạn 13C(c) - (e) theo đối tác. Nếu đơn vị cung cấp các thông tin được yêu cầu theo đối tác, đơn vị không phải trình bày tên các đối tác. Tuy nhiên, việc định danh đối tác (đối tác A, đối tác B, đối tác C, v.v) phải nhất quán giữa các năm được trình bày để đảm bảo khả năng so sánh. Các thuyết minh định tính có thể được cân nhắc để cung cấp thêm thông tin về các loại đối tác. Khi việc thuyết minh các giá trị theo đoạn 13C(c) - (e) được cung cấp theo đối tác, các giá trị đơn lẻ lớn trong tổng giá trị theo đối tác được thuyết minh riêng biệt và các giá trị đơn lẻ nhỏ còn lại được cộng chung thành một dòng.​
 
Các thuyết minh khác

B53
Các thuyết minh cụ thể theo yêu cầu của các đoạn 13C – 13E là các yêu cầu tối thiểu. Để thỏa mãn mục tiêu trong đoạn 13B đơn vị có thể cần bổ sung thêm các thuyết minh (định tính), tùy thuộc vào các điều khoản của các thỏa thuận bù trừ có hiệu lực tổng thể và các thỏa thuận liên quan, bao gồm bản chất của các quyền bù trừ và ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng tiềm năng đến tình hình tài chính của đơn vị.

Phụ lục C
Những sửa đổi đối với các IFRS khác


Những sửa đổi trong phụ lục này được áp dụng từ các kỳ báo cáo năm bắt đầu vào hoặc sau ngày 01 tháng 01 năm 2007. Nếu đơn vị áp dụng IFRS này cho một kỳ báo cáo sớm hơn, những sửa đổi này sẽ được áp dụng cho kỳ báo cáo sớm hơn đó.

Những sửa đổi trong phụ lục này khi IFRS này được ban hành vào năm 2005 đã được bao gồm trong nội dung của các IFRS có liên quan trong ấn bản này.​
 

Thành viên trực tuyến

Không có thành viên trực tuyến.
Top