- Bài viết
- 479
- Được Like
- 0
Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IAS 33 là một trong những chuẩn mực quan trọng trong lĩnh vực kế toán tài chính, tập trung vào cách tính và báo cáo lãi trên cổ phiếu. Được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới, IAS 33 giúp các doanh nghiệp công bố thông tin tài chính một cách minh bạch và nhất quán, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư và cổ đông có cái nhìn chính xác về khả năng sinh lời của công ty.
Trong bài viết này, Webifrs sẽ chia sẻ chi tiết về chuẩn mực này, bao gồm các nguyên tắc cơ bản, phương pháp tính toán và ý nghĩa của lãi trên cổ phiếu trong bối cảnh kinh doanh hiện đại. Qua đó, bạn sẽ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của IAS 33 và cách nó ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của các doanh nghiệp.
I. Mục tiêu
1. Mục đích của Chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc cho việc xác định và trình bày lãi trên cổ phiếu nhằm so sánh hiệu quả hoạt động giữa các đơn vị trong cùng một kỳ báo cáo và hiệu quả của một đơn vị qua các kỳ báo cáo khác nhau. Mặc dù số liệu lãi trên cổ phiếu tồn tại những hạn chế do sựu khác biệt chính sách kế toán được sử dụng để xác định “mức lãi” nhưng tính nhất quán trong việc xác định số cổ phiếu làm tăng tính hữu ích của báo cáo tài chính. Tập trung của Chuẩn mực này là xác định số cổ phiếu làm cơ sở xác định lãi trên cổ phiếu.
II. Phạm vi
2. Chuẩn mực này áp dụng cho:
(a) Báo cáo tài chính riêng của một đơn vị:
(i) Đang có cổ phiếu phổ thông hoặc cổ phiếu phổ thông tiềm năng được giao dịch trên thị trường (thị trường trong nước hoặc thị trường nước ngoài hoặc thị trường cổ phiếu chưa niêm yết, bao gồm cả thị trường địa phương và khu vực) hoặc
(ii) Đang lưu trữ tài liệu hoặc đang trong quá trình thực hiện tài liệu, các báo cáo tài chính của nó cùng với ủy ban chứng khoán và các tổ chức điều hành nhằm phát hành cổ phiếu phổ thông ra thị trường công chúng; và
(b) Báo cáo tài chính hợp nhất của một tập đoàn với một công ty mẹ:
(i) Đang có cổ phiếu phổ thông hoặc cổ phiếu phổ thông tiềm năng được giao dịch trên thị trường (thị trường trong nước hoặc thị trường nước ngoài hoặc thị trường cổ phiếu chưa niêm yết, bao gồm cả thị trường địa phương và khu vực) hoặc
(ii) Đang lưu trữ tài liệu hoặc đang trong quá trình thực hiện tài liệu, các báo cáo tài chính của nó cùng với ủy ban chứng khoán và các tổ chức điều nhằm phát hành cổ phiếu phổ thông ra thị trường công chúng.
3. Một đơn vị công bố lãi trên cổ phiếu phải tính toán và công bố thông tin lãi trên cổ phiếu theo Chuẩn mực này.
4. Khi một đơn vị trình bày cả báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tài chính riêng theo quy định của IFRS 10 Báo cáo tài chính hợp nhât và IAS 27 Báo cáo tài chính riêng thì những công bố theo quy định của Chuẩn mực này phải được trình bày chỉ căn cứ vào những thông tin hợp nhất. Một đơn vị lựa chọn công bố lãi trên cổ phiếu căn cứ báo cáo tài chính riêng sẽ trình bày những thông tin về lãi trên cổ phiếu chỉ trong báo cáo thu nhập toàn diện. Đơn vị này không trình bày những thông tin lãi trên cổ phiếu trên báo cáo tài chính hợp nhất.
4A. Nếu đơn vị nào trình bày các khoản mục lãi hoặc lỗ trên báo cáo tài chính riêng theo quy định của đoạn 10A của IAS 1 Trình bày báo cáo tài chính (đã được chỉnh sửa năm 2011) thì đơn vị đó sẽ chỉ trình bày lãi trên cổ phiếu trên báo cáo tài chính riêng này.
Trong bài viết này, Webifrs sẽ chia sẻ chi tiết về chuẩn mực này, bao gồm các nguyên tắc cơ bản, phương pháp tính toán và ý nghĩa của lãi trên cổ phiếu trong bối cảnh kinh doanh hiện đại. Qua đó, bạn sẽ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của IAS 33 và cách nó ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của các doanh nghiệp.
I. Mục tiêu
1. Mục đích của Chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc cho việc xác định và trình bày lãi trên cổ phiếu nhằm so sánh hiệu quả hoạt động giữa các đơn vị trong cùng một kỳ báo cáo và hiệu quả của một đơn vị qua các kỳ báo cáo khác nhau. Mặc dù số liệu lãi trên cổ phiếu tồn tại những hạn chế do sựu khác biệt chính sách kế toán được sử dụng để xác định “mức lãi” nhưng tính nhất quán trong việc xác định số cổ phiếu làm tăng tính hữu ích của báo cáo tài chính. Tập trung của Chuẩn mực này là xác định số cổ phiếu làm cơ sở xác định lãi trên cổ phiếu.
II. Phạm vi
2. Chuẩn mực này áp dụng cho:
(a) Báo cáo tài chính riêng của một đơn vị:
(i) Đang có cổ phiếu phổ thông hoặc cổ phiếu phổ thông tiềm năng được giao dịch trên thị trường (thị trường trong nước hoặc thị trường nước ngoài hoặc thị trường cổ phiếu chưa niêm yết, bao gồm cả thị trường địa phương và khu vực) hoặc
(ii) Đang lưu trữ tài liệu hoặc đang trong quá trình thực hiện tài liệu, các báo cáo tài chính của nó cùng với ủy ban chứng khoán và các tổ chức điều hành nhằm phát hành cổ phiếu phổ thông ra thị trường công chúng; và
(b) Báo cáo tài chính hợp nhất của một tập đoàn với một công ty mẹ:
(i) Đang có cổ phiếu phổ thông hoặc cổ phiếu phổ thông tiềm năng được giao dịch trên thị trường (thị trường trong nước hoặc thị trường nước ngoài hoặc thị trường cổ phiếu chưa niêm yết, bao gồm cả thị trường địa phương và khu vực) hoặc
(ii) Đang lưu trữ tài liệu hoặc đang trong quá trình thực hiện tài liệu, các báo cáo tài chính của nó cùng với ủy ban chứng khoán và các tổ chức điều nhằm phát hành cổ phiếu phổ thông ra thị trường công chúng.
3. Một đơn vị công bố lãi trên cổ phiếu phải tính toán và công bố thông tin lãi trên cổ phiếu theo Chuẩn mực này.
4. Khi một đơn vị trình bày cả báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tài chính riêng theo quy định của IFRS 10 Báo cáo tài chính hợp nhât và IAS 27 Báo cáo tài chính riêng thì những công bố theo quy định của Chuẩn mực này phải được trình bày chỉ căn cứ vào những thông tin hợp nhất. Một đơn vị lựa chọn công bố lãi trên cổ phiếu căn cứ báo cáo tài chính riêng sẽ trình bày những thông tin về lãi trên cổ phiếu chỉ trong báo cáo thu nhập toàn diện. Đơn vị này không trình bày những thông tin lãi trên cổ phiếu trên báo cáo tài chính hợp nhất.
4A. Nếu đơn vị nào trình bày các khoản mục lãi hoặc lỗ trên báo cáo tài chính riêng theo quy định của đoạn 10A của IAS 1 Trình bày báo cáo tài chính (đã được chỉnh sửa năm 2011) thì đơn vị đó sẽ chỉ trình bày lãi trên cổ phiếu trên báo cáo tài chính riêng này.
Bài viết liên quan
Bài viết mới